Tất tần tật về ngành quản trị du lịch

Ngành quản trị du lịch là gì? Có nên học ngành này? Trường nào đào tạo ngành quản trị dịch vụ du lịch lữ hành? Học ngành này sau khi ra trường có dễ xin việc không? Tất cả những băn khoăn của bạn sẽ được giải đáp trong bài viết này của Luận Văn Việt  chuyên viết luận văn thuê ở tphcm 

Tất tần tật về ngành quản trị du lịch
Tất tần tật về ngành quản trị du lịch

1. Ngành quản trị du lịch là gì?

Hiểu một cách đơn giản, ngành Quản trị du lịch khách sạn hay ngành quản trị du lịch lữ hành là ngành học đòi hỏi sự năng động tối đa, bao gồm quá trình quản lý và điều hành du lịch, chịu trách nhiệm phân công công việc cho các hướng dẫn viên du lịch, nhận thông tin để phối hợp với các bộ phận, cơ quan chức năng giải quyết phát sinh, thiết kế các chương trình du lịch,… Đây được xem là ngành “công nghiệp không khói” giàu tiềm năng nhất của thế kỷ trong xu hướng toàn cầu hóa.

2. Ngành quản trị du lịch học trường nào?

2.1. Các trường đào tạo ngành quản trị du lịch tại Hà Nội 

– Trường Đại Học Hà Nội

Thông tin liên hệ:

  • Địa chỉ trụ sở: Km9, đường Nguyễn Trãi, quận Thanh Xuân, Hà Nội.
  • Điện thoại: (04)38544338.
  • Website:http://hanu.vn

– Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn- ĐHQG Hà Nội

Thông tin liên hệ:

  • Địa chỉ: Số 336 đường Nguyễn Trãi, quận Thanh Xuân, Hà Nội
  • Điện thoại: (04) 3858.5237
  • wesite:http://ussh.vnu.edu.vn/

– Trường Đại học Văn hóa Hà Nội

Thông tin liên hệ:

  • Địa chỉ: Số 418 đường La Thành, phường Ô Chợ Dừa , quận Đống Đa, Hà Nội
  • Điện thoại: 0438511971
  • wesite:http://huc.edu.vn/

– Viện Đại học mở Hà Nội

Thông tin liên hệ:    

  • Địa chỉ: Nhà B101, phố Nguyễn Hiền, phường Bách Khoa, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội
  • Điện thoại: 04.6297.45.45, 04.6297.46.46
  • wesite:http://hou.edu.vn/

– Trường Đại học Kinh tế Quốc dân

Thông tin liên hệ: 

  • Địa chỉ: Số 207, đường Giải phóng, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội
  • Điện thoại: (04) 36280280 (máy lẻ: 5106, 5114, 5101, 6901)
  • Website: http://neu.edu.vn/

– Trường Đại học Thương mại

Thông tin liên hệ:

  • Địa chỉ: 79 đường Hồ Tùng Mậu, phường Mai Dịch, quận Cầu Giấy, Hà Nội;
  • Điện thoại: (04) 38 348 406; (04) 37.643 219
  • Website: https://tmu.edu.vn/

– Trường Cao đẳng du lịch Hà Nội

Thông tin liên hệ:

Địa chỉ: Số 236  đường Hoàng Quốc Việt, quận Cầu Giấy, Hà Nội

ĐT: (04)37560745; (04)37541936.

Website:http://htc.edu.vn/

2.1. Các trường đào tạo ngành quản trị du lịch tại TP.HCM

– Trường Đại học Kinh tế TP.HCM

Thông tin liên hệ: 

  • Địa chỉ: Số 59C Nguyễn Đình Chiểu, Quận 3, TP. Hồ Chí Minh.
  • Điện thoại: (08)38230082.
  • Website: http://www.ueh.edu.vn/

– Trường Đại học tài chính Marketing

Thông tin liên hệ

  • Địa chỉ: Số 2/4 Trần Xuân Soạn, phường Tân Thuận Tây, quận 7, Tp.HCM
  • Điện thoại: (08) 37720404; 
  • Website: https://ufm.edu.vn/

– Trường Đại học Công nghiệp TP.HCM

Thông tin liên hệ:

  • Địa chỉ: Số 12 Nguyễn Văn Bảo, P.4, Q.Gò Vấp, Tp.HCM
  • Điện thoại: (08) 3985 0578; 9851932; 8955858
  • Website: http://www.hui.edu.vn/vi

– Trường Đại học Văn hóa TP.HCM

Thông tin liên hệ:

  • Địa chỉ: số 51 đường Quốc Hương, phường Thảo Điền, Quận 2, TP. Hồ Chí Minh.
  • Điện thoại: 08.38992901 
  • Website: http://www.hcmuc.edu.vn/

– Trường Đại học Công nghệ TP.HCM

Thông tin liên hệ:

  • Địa chỉ: Số 475A Điện Biên Phủ, Phường 25, Quận Bình Thạnh, TPHCM
  • Điện thoại: 08 5445 2222 – 08 2201 0077
  • Website: https://www.hutech.edu.vn/

– Trường ĐH Ngoại ngữ – Tin học TP.HCM

Thông tin liên hệ:

  • Địa chỉ: Số 155 Sư Vạn Hạnh (nối dài), P.13, Q.10, Tp.Hồ Chí Minh
  • Điện thoại: (08)38629232. 
  • Website: http://huflit.edu.vn/

– Trường Đại học Tôn Đức Thắng

Thông tin liên hệ:

  • Địa chỉ: Số 19, đường Nguyễn Hữu Thọ, phường Tân Phong, Quận 7, Tp. HCM
  • Điện thoại: 08.37755035
  • Website: https://www.tdtu.edu.vn/

3. Học ngành quản trị dịch vụ du lịch lữ hành có dễ xin việc không?

Ngành quản trị du lịch là gì?
Ngành quản trị du lịch là gì?

Theo Tổng cục du lịch Việt Nam, mỗi năm ngành du lịch nước ta đón khoảng 800 nghìn lượt khách nước ngoài. Dự kiến đến năm 2020, Việt Nam sẽ đón khoảng 47- 48 triệu lượt khách du lịch nội địa, 10 – 10.5 triệu lượt khách quốc tế và với tổng số 580.000 buồng lưu trú. Với tốc độ phát triển này, dự kiến sẽ tạo ra khoảng 3.000.000 việc làm cho nguồn nhân lực ở nhóm ngành du lịch – khách sạn.

Đây là cơ hội cho những bạn theo học ngành Quản trị dịch vụ du lịch và lữ hành dễ dàng nắm bắt những vị trí việc làm tốt nhất. Tuy nhiên, học ngành Quản trị dịch vụ du lịch và lữ hành có dễ xin việc hay không vẫn là vấn đề rất nhiều thí sinh và phụ huynh quan tâm. Nhằm giúp bản thân có được lợi thế chinh phục nhà tuyển dụng, các bạn nên tìm hiểu rõ về lộ trình học tập, chọn được môi trường phù hợp để trang bị kiến thức, kỹ năng, ngoại ngữ.

Từ khóa liên quan: ngành quản trị du lịch khách sạn là gì, ngành quản trị du lịch lữ hành là gì, ngành quản trị du lịch thi khối nào

Mẫu luận văn quản trị kinh doanh đầy đủ và mới nhất

Bạn đang vô cùng lo lắng và bức bối với bài luận văn quản trị kinh doanh của mình? Bạn không biết cách làm thế nào để hoàn thiện bài luận văn ấy một cách đầy đủ, chi tiết và logic? Hơn nữa bạn chưa có kinh nghiệm làm luận văn ngành quản trị kinh doanh. Vậy phải làm sao đây?

Mẫu luận văn quản trị kinh doanh đầy đủ và mới nhất
Mẫu luận văn quản trị kinh doanh đầy đủ và mới nhất

Đừng lo với mẫu bài luận văn mà Luận Văn Việt  chuyên làm luận văn tốt nghiệp đại học chia sẻ dưới đây, bạn sẽ biết mình nên làm những gì để hoàn thành chủ đề của mình một cách dễ dàng.

Đề tài: Quản trị nguyên liệu và các giải pháp cơ bản về phát triển vùng nguyên liệu Công ty XYZ

1. Khái niệm và mục tiêu của quản trị nguyên vật liệu

1.1. Khái niệm quản trị nguyên vật liệu và mục tiêu của quản trị nguyên vật liệu 

Các thuật ngữ khác nhau như quản trị nguyên vật liệu và cung ứng được sử dụng như là mác chung cho quy mô toàn cục của tất cả các hoạt động được yêu cầu để quản lý dòng nguyên vật liệu từ các nhà cung cấp thông qua hoạt động của doanh nghiệp đến sử dụng vật liệu cuối cùng, hoặc đối với người tiêu dùng. Ta có khái niệm sau: 

Quản trị nguyên vật liệu là các hoạt động liên quan tới việc quản lý dòng vật liệu vào, ra của doanh nghiệp. Đó là quá trình phân nhóm theo chức năng và quản lý theo chu kỳ hoàn thiện của dòng nguyên vật liệu, từ việc mua và kiểm soát bên trong các nguyên vật liệu sản xuất đến kế hoạch và kiểm soát công việc trong quá trình lưu chuyển của vật liệu đến công tác kho tàng vận chuyển và phân phối thành phẩm (1). 

Mục tiêu của quản trị nguyên vật liệu là: 

Quản trị nguyên vật liệu nhằm đáp ứng yêu cầu về nguyên vật liệu cho sản xuất trên cơ sở có đúng chủng loại nơi nó cần và thời gian nó được yêu cầu. 

Có tất cả chủng loại nguyên vật liệu khi doanh nghiệp cần tới. 

Đảm bảo sự ăn khớp của dòng nguyên vật liệu để làm cho chúng có sẵn khi cần đến. 

Mục tiêu chung là để có dòng nguyên vật liệu từ các nhà cung cấp đến tay người tiêu dùng mà không có sự chậm trễ hoặc chi phí không được điều chỉnh. 

1.2. Nhiệm vụ của quản trị nguyên vật liệu

– Tính toán số lượng mua sắm và dự trữ tối ưu (kế hoạch cần nguyên vật liệu).

Đưa ra các phương án và quyết định phương án mua sắm cũng như kho tàng. 

Đường vận chuyển và quyết định vận chuyển tối ưu. 

Tổ chức công tác mua sắm bao gồm công tác từ khâu xác định bạn hàng, tổ chức nghiệp vụ đặt hàng, lựa chọn phương thức giao nhận, kiểm kê, thanh toán. 

Tổ chức hoạt động vận chuyển nguyên vật liệu bao gồm từ khâu lựa chọn và quyết định phương án vận chuyển: Bạn hàng vận chuyển đến kho doanh nghiệp thuê ngoài hay tự tổ chức vận chuyển bằng phương tiện của doanh nghiệp, bố trí và tổ chức hệ thống kho tàng hợp lý (vận chuyển nội bộ). 

Tổ chức cung ứng và tổ chức quản trị nguyên vật liệu và cấp phát kịp thời cho sản xuất.

2. Phân loại nguyên liệu

2.1. Phân loại nguyên vật liệu 

Nguyên vật liệu chính: là những thứ mà sau quá trình gia công, chế biến sẽ thành thực thể vật chất chủ yếu của sản phẩm (kể cả bán thành phẩm mua vào). 

Vật liệu phụ: Là những vật liệu chỉ có tác dụng phụ trợ trong sản xuất, được sử dụng kết hợp với vật liệu chính để làm thay đổi màu sắc, hình dáng, mùi vị hoặc dùng để bảo quản, phục vụ hoạt động của các tư liệu lao động hay phục vụ cho lao động của công nhân viên chức (dầu nhớt, hồ keo, thuốc nhuộm, thuốc tẩy, thuốc chống rỉ, hương liệu, xà phòng…) 

Nhiên liệu: Là những thứ để cung cấp nhiệt lượng trong quá trình sản xuất, kinh doanh như than, củi, xăng, hơi đốt, khí đốt… 

Phụ tùng thay thế: Là các chi tiết, phụ tùng để sửa chữa và thay thế cho máy móc, thiết bị, phương tiện vận tải… 

Vật liệu và thiết bị xây dựng cơ bản: Bao gồm các vật liệu và thiết bị (cần lắp, không cần lắp, vật cấu kết, công cụ, khí cụ…) mà doanh nghiệp nhằm mục đích đầu tư xây dựng cơ bản

Phế liệu: Là các loại thu được trong quá trình sản xuất hay thanh lý tài sản, có thể sử dụng hay bán ra ngoài (phôi bào, vải vụn, gạch, sắt…).

Vật liệu khác: Bao gồm các vật liệu còn lại ngoài các thứ chưa kể trên như bao bì, vật đóng gói, các loại vật tư đặc chủng (2). 

luan-van-quan-tr-kinh-doanh (2)
luan-van-quan-tr-kinh-doanh

2.2. Vai trò nguyên vật liệu 

Nguyên vật liệu là một bộ phận của đối tượng lao động, là một bộ phận trọng yếu của quá trình sản xuất kinh doanh, nó chỉ tham gia vào một chu kỳ sản xuất kinh doanh nhất định và toàn bộ nguyên vật liệu được chuyển hết vào chi phí kinh doanh. 

Nguyên vật liệu là một trong ba yếu tố của quá trình sản xuất (sức lao động, tư liệu lao động và đối tượng lao động) trực tiếp cấu tạo nên thực thể của sản phẩm. 

Trong quá trình sản xuất không thể thiếu nhân tố nguyên vật liệu vì thiếu nó quá trình sản xuất sẽ không thể thực hiện được hoặc sản xuất bị gián đoạn. 

Chất lượng nguyên vật liệu ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng sản xuất, chúng ta không thể có một sản phẩm tốt khi nguyên vật liệu làm ra sản phẩm đó lại kém chất lượng. Do vậy cần có một kế hoạch đảm bảo nguồn nguyên vật liệu cho quá trình sản xuất được diễn ra thường xuyên liên tục, cung cấp đúng, đủ số lượng, quy cách, chủng loại nguyên vật liệu… chỉ trên cơ sở đó mới nâng cao được các chỉ tiêu kinh tế, kỹ thuật, sản xuất kinh doanh mới có lãi và doanh nghiệp mới có thể tồn tại được trên thương trường. 

Xét cả về thực tiễn ta thấy rằng, nguyên vật liệu là một trong ba yếu tố cơ bản của quá trình sản xuất kinh doanh, nếu thiếu nguyên vật liệu hoặc sản  

xuất cung cấp không đầy đủ, đồng bộ theo quá trình sản xuất kinh doanh thì sẽ không có hiệu quả cao.

Xét về mặt vật chất thuần tuý thì nguyên vật liệu là yếu tố trực tiếp cấu tạo nên sản phẩm, chất lượng nguyên vật liệu ảnh hưởng trực tiếp tới chất lượng sản phẩm. Do đó công tác quản trị nguyên vật liệu là một biện pháp cơ bản để nâng cao chất lượng sản phẩm. 

2.3. Vai trò quản trị nguyên vật liệu 

Quản trị nguyên vật liệu tốt sẽ điều kiện tiền đề cho hoạt động sản xuất có thể tiến hành và tiến hành có hiệu quả cao.

Quản trị nguyên vật liệu tốt sẽ tạo cho điều kiện cho hoạt động sản xuất diễn ra một cách liên tục, không bị gián đoạn góp phần đáp ứng tốt nhu cầu của khách hàng. 

Là một trong những khâu rất quan trọng, không thể tách rời với các khâu khác trong quản trị doanh nghiệp. 

Nó quyết định tới chất lượng của sản phẩm đáp ứng nhu cầu ngày càng khắt khe, khó tính của khách hàng. 

Một vai trò rất quan trọng nữa của quản trị nguyên vật liệu đó là nó góp phần làm giảm chi phí kinh doanh, giảm giá thành sản phẩm do đó tạo điều kiện nâng sức cạnh tranh của doanh nghiệp so với đối thủ cạnh tranh.

3. Sự luân chuyển của dòng nguyên liệu

Nắm bắt được sự luân chuyển của dòng vật liệu sẽ giúp cho nhà quản trị nhận biết được xu hướng vận động, các giai đoạn di chuyển của dòng nguyên vật liệu để có biện pháp quản lý một cách tốt nhất.

Một trong những đặc trưng nổi bật nhất của các doanh nghiệp lớn đó là sự vận động. Với một số lượng lớn nhân lực và sự phức tạp của thiết bị có thể kéo theo việc quản lý nguyên vật liệu trong doanh nghiệp. Các vật liệu dịch chuyển từ hoạt động này sang hoạt động khác khi các yếu tố đầu vào được chuyển thành các đầu ra thông qua quá trình chế biến.

Sơ đồ luân chuyển vật liệu
Sơ đồ luân chuyển vật liệu

Qua sơ đồ trên ta thấy, phần đầu vào của dòng vật liệu kéo theo những hoạt động như mua, kiểm soát, vận chuyển và nhận. Các hoạt động liên quan tới nguyên vật liệu và cung ứng nguyên vật liệu trong phạm vi doanh nghiệp có thể bao gồm kiểm tra quá trình sản xuất, kiểm soát tồn kho và quản lý vật liệu. Các hoạt động liên quan đến đầu ra có thể bao gồm đóng gói, vận chuyển và kho tàng.
Bạn có thể xem toàn bộ bài luận văn này bằng cách tải về máy tính của mình TẠI ĐÂY

Chia sẻ mẫu luận văn quản trị chuỗi cung ứng

Bạn đang cảm thấy bối rối khi phải hoàn thành nhiệm vụ làm bài luận văn quản trị chuỗi cung ứng? Đừng lo, Luận Văn Việt  chuyên hỗ trợ viết luận văn sẽ chia sẻ đến bạn mẫu luận văn này một cách chi tiết và đầy đủ nhất. Đây chắc chắn sẽ là nguồn tài liệu tham khảo đáng giá để bạn có cách làm bài luận văn của mình một cách dễ dàng hơn.

Chia sẻ mẫu luận văn quản trị chuỗi cung ứng
Chia sẻ mẫu luận văn quản trị chuỗi cung ứng

1. Khái quát chung về chuỗi cung ứng

Ngày nay, để thành công trong bất kỳ môi trường kinh doanh nào, các doanh nghiệp không chỉ tập trung vào hoạt động của riêng mình mà phải tham gia vào công việc kinh doanh của nhà cung cấp cũng như khách hàng của nó. Bởi lẽ, khi doanh nghiệp muốn đáp ứng sản phẩm hoặc dịch vụ cho khách hàng, họ buộc phải quan tâm sâu sắc hơn tới dòng dịch chuyển của nguyên vật liệu, cách thức thiết kế, đóng gói sản phẩm, và dịch vụ của nhà cung cấp, cách thức vận chuyển, bảo quản sản phẩm, và những mong đợi thực sự của người tiêu dùng, hoặc khách hàng cuối cùng. Cạnh tranh có tính toàn cầu ngày càng khốc liệt, chu kỳ sống của sản phẩm mới ngày càng ngắn hơn, mức độ kỳ vọng của khách hàng ngày càng cao hơn, đã thúc ép các doanh nghiệp phải đầu tư và tập trung nhiều hơn vào chuỗi cung ứng của mình. Thêm vào đó, những tiến bộ liên tục và đổi mới trong công nghệ truyền thông và vận tải, đã thúc đẩy sự phát triển không ngừng của chuỗi cung ứng và những kỹ thuật để quản lý chuỗi cung ứng. Vậy, chuỗi cung ứng là gì? 

“Chuỗi cung ứng bao gồm mọi công đoạn có liên quan trực tiếp hay gián tiếp đến việc đáp ứng nhu cầu khách hàng. Chuỗi cung ứng không chỉ gồm nhà sản xuất và nhà cung cấp, mà còn gồm nhà vận chuyển, kho, người bán lẻ và bản thân khách hàng”1 (Sunil Chopra, Pete Meindl, 2007). Trong mỗi một tổ chức, như nhà sản xuất, chuỗi cung ứng bao gồm tất cả các chức năng liên quan tới việc nhận và hoàn thành đơn hàng. Những chức năng này bao hàm và không bị hạn chế trong việc phát triển sản phẩm mới, marketing, sản xuất, phân phối, tài chính và dịch vụ khách hàng.

“Chuỗi cung ứng là sự liên kết với các công ty nhằm đưa sản phẩm hay dịch vụ vào thị trường.”2 (Stock và Elleam, 1998) 

“Chuỗi cung ứng là một mạng lưới các lựa chọn sản xuất và phân phối nhằm thực hiện các chức năng thu mua nguyên liệu, chuyển đổi nguyên liệu thành bán thành phẩm và thành phẩm, và phân phối chúng cho khách hàng”3 (Ganesham, Ran and Terry P.Harrison, 1995).

Chuỗi cung ứng luôn hàm chứa tính năng động và liên quan tới những dòng liên tục về thông tin, sản phẩm và tài chính giữa các giai đoạn khác nhau. Trong ví dụ trên, Hapro cung cấp những thông tin về sản phẩm, giá cả, cũng như các thông tin sẵn có của sản phẩm cho khách hàng. Khách hàng trả tiền cho Hapro. Hapro sẽ truyền tải dữ liệu bán hàng cũng như đơn đặt hàng đến nhà kho hoặc nhà phân phối, và họ sẽ chuyển hàng đến cửa hàng. Đổi lại, Hapro sẽ chuyển tiền cho nhà phân phối sau khi nhận được hàng. Nhà cung cấp cung cấp thông tin về giá cả cũng như lịch trình giao hàng cho Hapro. Cứ như thế, dòng thông tin, nguyên vật liệu và tài chính sẽ luân chuyển trong toàn bộ chuỗi cung ứng. 

Khách hàng là thành tố tiên quyết của chuỗi cung ứng. Mục đích then chốt cho sự hiện hữu của bất kỳ chuỗi cung ứng nào là để thỏa mãn nhu cầu của khách hàng, trong quá trình tạo ra lợi nhuận cho chính chuỗi cung ứng đó. Thuật ngữ “chuỗi cung ứng” gợi nên hình ảnh sản phẩm hoặc việc cung cấp dịch chuyển từ nhà cung cấp đến nhà sản xuất, đến nhà phân phối, đến nhà bán lẻ, và đến khách hàng dọc theo chuỗi cung ứng. Điều quan trọng là phải hiểu rằng, dòng thông tin, sản phẩm, và tài chính luôn dịch chuyển dọc cả hai hướng của chuỗi.

Chia sẻ mẫu luận văn quản trị chuỗi cung ứng
Chia sẻ mẫu luận văn quản trị chuỗi cung ứng

2. Quản trị chuỗi cung ứng

2.1. Khái niệm 

Có rất nhiều định nghĩa về quản trị chuỗi cung ứng. 

Theo Viện Quản Trị Chuỗi Cung Ứng Hoa Kỳ mô tả quản trị chuỗi cung ứng là việc thiết kế và quản lý các tiến trình xuyên suốt, tạo giá trị cho các tổ chức để đáp ứng nhu cầu thực sự của khách hàng cuối cùng. Sự phát triển và tích hợp nguồn lực con người là yếu tố then chốt cho việc tích hợp chuỗi cung ứng thành công. 

Theo Hội Đồng Chuỗi Cung Ứng thì quản trị chuỗi cung ứng là việc quản lý cung và cầu, xác định nguồn nguyên vật liệu và chi tiết, sản xuất và lắp ráp, kiểm tra kho hàng và tồn kho, tiếp nhận đơn hàng và quản lý đơn hàng, phân phối qua các kênh và phân phối đến khách hàng cuối cùng. 

Theo Hội Đồng Quản Trị Logistics thì quản trị chuỗi cung ứng là “…..sự phối hợp chiến lược và hệ thống các chức năng kinh doanh truyền thống và các sách lược xuyên suốt các chức năng này trong một công ty cụ thể và giữa các doanh nghiệp trong chuỗi cung ứng với mục đích cải thiện thành tích dài hạn của các công ty đơn lẻ và của cả chuỗi cung ứng”. 

Từ các định nghĩa trên có thể rút ra một định nghĩa chung nhất về quản trị chuỗi cung ứng: “Quản trị chuỗi cung ứng là sự phối hợp của sản xuất, tồn kho, địa điểm và vận chuyển giữa các thành viên trong chuỗi cung ứng nhằm đáp ứng nhịp nhàng và hiệu quả các nhu cầu của thị trường.”

Điểm nhất quán giữa các định nghĩa trên đó là sự phối hợp và hợp nhất lượng lớn các hoạt động liên quan đến sản phẩm trong số các thành viên của chuỗi cung cấp nhằm cải thiện năng suất hoạt động, chất lượng, và dịch vụ khách hàng; nhằm đạt được lợi thế cạnh tranh bền vững cho tất cả các tổ chức liên quan trong chuỗi cung ứng. Vì thế để quản trị chuỗi cung ứng thành công, các doanh nghiệp phải tích cực chia sẻ các thông tin có liên quan như: dự báo nhu cầu, kế hoạch sản xuất, các chiến lược marketing, việc cải tiến sản phẩm và dịch vụ, việc áp dụng công nghệ mới, kế hoạch thu mua, ngày giao hàng, và bất kỳ thông tin nào tác động đến các kế hoạch phân phối, sản xuất, và thu mua.

2.2. Lịch sử phát triển của quản trị chuỗi cung ứng

Trong suốt thập niên 1950 và 1960, các công ty của Mỹ áp dụng công nghệ sản xuất hàng loạt để cắt giảm chi phí và cải tiến năng suất, trong khi ít chú ý đến việc tạo mối quan hệ với nhà cung cấp, cải thiện việc thiết kế quy trình và tính linh hoạt, hoặc cải thiện chất lượng sản phẩm. Thiết kế và phát triển sản phẩm mới diễn ra chậm chạp, lệ thuộc chủ yếu vào nguồn lực nội bộ, công nghệ và công suất. Chia sẻ công nghệ chuyên môn thông qua sự cộng tác giữa người mua và người bán là thuật ngữ hiếm nghe ở giai đoạn này. Tồn kho trong sản xuất tăng cao do các nhà máy tăng cường tồn kho để máy móc hoạt động thông suốt và cân đối dòng nguyên vật liệu. 

Trong thập niên 1960 và 1970, hệ thống hoạch định nhu cầu nguyên vật liệu (MRP) và hệ thống hoạch định nguồn lực sản xuất (MRPII) được phát triển; tầm quan trọng của quản trị nguyên vật liệu hiện quả càng được nhấn mạnh. Các phần mềm kiểm soát tồn kho ngày càng hiệu quả do sự phát triển của công nghệ thông tin đã giảm đáng kể chi phí tồn kho trong khi vẫn cải thiện truyền thông nội bộ về nhu cầu của các chi tiết cần mua cũng như nguồn cung. 

Thập niên 1980 được xem như là thời kỳ nền móng cho quản trị chuỗi cung ứng. Thuật ngữ quản trị chuỗi cung ứng lần đầu tiên được sử dụng rộng rãi trên nhiều tạp chí ở Mỹ. Cạnh tranh trên thị trường toàn cầu ngày càng trở nên khốc liệt vào đầu thập niên 1980 đã gây áp lực tới các nhà sản xuất cắt giảm chi phí, nâng cao chất lượng sản phẩm, và gia tăng mức độ phục vụ khách hàng. JIT và chiến lược quản trị chất lượng toàn diện TQM được các hãng sản xuất áp dụng nhằm cải thiện chất lượng, nâng cao hiệu suất, và thời gian giao hàng. Cùng với việc sử dụng ít tồn kho làm đệm cho lịch trình sản xuất, các doanh nghiệp bắt đầu nhận thấy lợi ích tiềm tàng và tầm quan trọng của mối quan hệ chiến lược và hợp tác giữa nhà cung cấp-người mua-khách hàng. 

Để giải quyết những thách thức đang gia tăng vào đầu thập niên 1990 về cải thiện chất lượng, hiệu quả sản xuất, dịch vụ khách hàng và thiết kế, phát triển sản phẩm mới, các nhà sản xuất bắt đầu mua sản phẩm từ các nhà cung cấp chất lượng cao, có danh tiếng, và được chứng thực. Bên cạnh đó, các hãng sản xuất kêu gọi các nhà cung cấp tham gia vào việc thiết kế, phát triển sản phẩm mới, cũng như đóng góp ý kiến nhằm cải thiện dịch vụ, chất lượng, và giảm chi phí chung. Nhờ đó, doanh số của các doanh nghiệp sản xuất tăng thông qua sự cải tiến chất lượng, phân phối, và thiết kế sản phẩm, cũng như giảm chi phí nhờ vào việc quan tâm nhiều đến tiến trình, nguyên vật liệu, và các linh kiện trong quá trình sản xuất. Nhiều liên minh giữa nhà cung cấp-người mua đã thành công. Vào cuối những năm 1990, quản trị chuỗi cung ứng trở nên phổ biến hơn, như là nguồn lực tạo ra lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp. 

Trong thời gian đó, các học giả, các nhà quản trị bắt đầu nhận thức sâu sắc hơn sự khác biệt giữa logistics và quản trị chuỗi cung ứng. Phải tới thời điểm này thì quản trị chuỗi cung ứng mới được nhìn nhận như là hoạt động hậu cần bên ngoài doanh nghiệp. Khi ứng dụng các sáng kiến của quản trị chuỗi cung ứng, các doanh nghiệp bắt đầu hiểu được sự cần thiết phải tích hợp tất cả các quy trình kinh doanh then chốt giữa các bên tham gia trong chuỗi cung ứng, cho phép chuỗi cung ứng hoạt động thống nhất. Tương tự, các doanh nghiệp cũng nhận ra lợi ích trong việc tạo ra các liên minh hay sự cộng tác với khách hàng. Trong tương lai, quản trị chuỗi cung ứng có thể nhấn mạnh tới mở rộng chuỗi cung ứng, gia tăng trách nhiệm của chuỗi và nhấn mạnh hơn nữa vào chuỗi cung ứng “xanh”, cũng như cắt giảm đáng kể chi phí của chuỗi.

2.3. Nội dung của quản trị chuỗi cung ứng

Mỗi chuỗi cung ứng dù có quy mô, cấu trúc, và nhu cầu thị trường riêng, nhưng nhìn chung đều được cấu tạo từ 5 thành phần cơ bản: sản xuất, tồn kho, địa điểm, vận tải, và thông tin. ( Michael Hugos, 2003)

Ảnh 2 – 5 thành phần chính của chuỗi cung ứng

2.3.1. Tồn kho

Hàng tồn kho bao gồm nguyên vật liệu, bán thành phẩm, thành phẩm do nhà sản xuất, nhà phân phối và người bán lẻ tồn trữ dàn trải trong suốt chuỗi cung ứng. Một lần nữa, các nhà quản lý lại phải quyết định tồn kho ở đâu nhằm cân đối giữa tính đáp ứng và tính hiệu quả. Tồn trữ số lượng lớn hàng tồn kho cho phép công ty đáp ứng nhanh chóng những biến động về nhu cầu của khách hàng. Tuy nhiên, việc xuất hiện và tồn trữ hàng tồn kho tạo ra một chi phí đáng kể; và để đạt hiệu quả cao thì chi phí tồn kho nên thấp nhất có thể. Có 3 loại tồn kho cơ bản: 

Tồn kho chu kỳ: là lượng hàng tồn kho cần thiết để thỏa mãn nhu cầu về sản phẩm trong một giai đoạn giữa các kỳ mua hàng. Các doanh nghiệp có xu hướng sản xuất hoặc mua một lượng lớn hàng hóa nhằm đạt được hiệu quả kinh tế theo quy mô. Tuy nhiên, hàng hóa nhiều làm gia tăng chi phí tồn kho gồm: chi phí lưu kho, xử lý và bảo hiểm hàng tồn kho. Các nhà quản lý phải cố gắng cân bằng giữa việc đạt được chi phí đặt hàng thấp, giá rẻ và việc gia tăng chi phí tồn kho khi mua hàng với khối lượng lớn. 

Tồn kho an toàn: Là lượng hàng tồn kho được lưu trữ nhằm đối phó với sự bất ổn. Nếu dự báo nhu cầu được thực hiện chính xác thì hàng tồn kho chỉ cần thiết giữ ở mức tồn kho định kỳ. Tuy nhiên, mọi dự báo đều có sai số, vì thể để đối phó với sai số trong trường hợp nhu cầu tăng đột biến so với dự báo thì tồn kho dự phòng là cần thiết. Ở đây, cần phải cân nhắc giữa chi phí tồn kho gia tăng với phần thua lỗ do tồn kho thiếu. 

Tồn kho theo mùa: Là lượng tồn kho được xây dựng dựa trên cơ sở dự báo sự gia tăng nhu cầu về hàng hóa diễn ra vào những thời kỳ nhất định trong năm. Ví dụ, dự báo rằng nhu cầu về áo chống rét sẽ tăng mạnh vào mùa đông. Một công ty sản xuất quần áo ở mức công suất nhất định, công ty này khó có thể thay đổi công suất khi mùa đông đến. Vì thế công ty sẽ cố gắng sản xuất áo chống rét ở một mức công suất cố định trong năm, và lưu kho sản phẩm trong suốt thời kỳ nhu cầu về áo rét thấp, để bù cho giai đoạn nhu cầu tăng quá cao, vượt mức công suất của nhà máy. Một lựa chọn thay thế cho tồn kho theo mùa là hướng đến đầu tư khu vực sản xuất linh hoạt, có thể nhanh chóng thay đổi công suất sản xuất các sản phẩm khác nhau nhằm đáp ứng nhu cầu gia tăng. Trong trường hợp này, vấn đề chính là sự đánh đổi giữa chi phí lưu kho theo mùa và chi phí để có được khu vực sản xuất linh hoạt. 

2.3.3. Địa điểm 

Địa điểm đề cập đến việc xác định vị trí địa lý cho những nhà máy trong chuỗi cung ứng, cũng như các quyết định về những hoạt động được thực hiện trong mỗi nhà máy này. Đánh đổi giữa tính đáp ứng nhanh và tính hiệu quả là việc ra quyết định, hoặc phân tán các hoạt động ở những khu vực gần khách hàng và nhà cung ứng để hoạt động diễn ra nhanh chóng, hoặc tập trung hoạt động ở một vài địa điểm để đạt được hiệu quả kinh tế theo quy mô. Quyết định về địa điểm được xem như là một quyết định chiến lược vì ảnh hưởng lớn đến tài chính trong kế hoạch dài hạn. Khi quyết định về địa điểm, nhà quản lý cần xem xét hàng loạt các yếu tố có liên quan như chi phí phòng ban, lao động, kỹ năng cần có trong sản xuất, điều kiện cơ sở hạ tầng, thuế, và vị trí gần với nhà cung cấp hay người tiêu dùng. Quyết định địa điểm có tác động mạnh đến chi phí và đặc tính hoạt động của chuỗi cung ứng. Quyết định địa điểm phản ánh chiến lược cơ bản của một công ty về việc xây dựng và phân phối sản phẩm đến thị trường. Khi định được địa điểm, số lượng, và kích cỡ thì chúng ta xác định được số lượng kênh phân phối sản phẩm đến người tiêu dùng cuối cùng. 

2.3.4. Vận tải 

Vận tải liên quan đến sự di chuyển mọi thứ từ nguyên liệu thô đến thành phẩm giữa các giai đoạn khác nhau trong chuỗi cung ứng. Sự cân bằng giữa tính đáp ứng nhanh và tính hiệu quả được biểu hiện thông qua việc lựa chọn phương thức vận tải. Phương thức vận tải nhanh như máy bay dù rất nhanh chóng nhưng chi phí rất cao. Ngược lại, các phương thức vận tải như vận tải đường biển và đường sắt dù đạt được hiệu quả về chi phí nhưng đáp ứng không kịp thời. Có 6 phương thức vận tải cơ bản: 

Vận tải đường biển: Chi phí thấp nhưng lại là phương thức vận tải chậm nhất. 

Phương thức này chỉ được sử dụng để vận chuyển hàng hóa giữa những địa điểm gần đường thủy hoặc đường biển như: kênh rạch, cảng biển… 

Đường sắt: Giá thành rẻ, chi phí trung bình, nhưng cũng bị hạn chế do bị phụ thuộc vào hệ thống đường ray. 

Đường ống: Tương đối hiệu quả nhưng bị giới hạn loại hàng hóa như: nước, dầu, khí ga. 

Đường bộ: Là phương thức vận tải nhanh và rất thuận tiện. Xe tải hầu như có thể đi khắp mọi nơi, tuy nhiên chi phí dễ biến động vì chi phí nhiên liệu biến động và đường xá thay đổi.

Đường hàng không: Là hình thức vận chuyển rất nhanh, đáp ứng rất kịp thời. 

Đây cũng là hình thức có chi phí đắt nhất và bị hạn chế bởi công suất vận chuyển. 

Vận chuyển điện tử: Là hình thức vận chuyển nhanh nhất, rất linh hoạt và có hiệu quả về chi phí. Hình thức này chỉ được sử dụng để vận chuyển loại sản phẩm như năng lượng điện, dữ liệu và các sản phẩm được tạo từ dữ liệu như hình ảnh, nhạc, văn bản. 

Các nhà quản lý cần phải kết hợp những phương thức vận tải khác nhau với những địa điểm trong chuỗi cung ứng để thiết kế ra lộ trình và mạng lưới phân phối sản phẩm đến thị trường. Lộ trình là một đường dẫn mà sản phẩm sẽ di chuyển qua, và mạng lưới gồm các lộ trình và những địa điểm được kết nối bởi những đường dẫn này. Theo nguyên tắc chung, hàng hóa có giá trị càng cao (như linh kiện điện tử, hàng dược phẩm…) thì mạng lưới vận chuyển càng phải tập trung vào tính kịp thời; hành hóa có giá trị thấp hơn (như các loại hàng: ngũ cốc, gỗ…) thì càng nên nhấn mạnh đến tính hiệu quả. 

2.3.5. Thông tin 

Thông tin là cơ sở để ra những quyết định có liên quan đến bốn yếu tố thúc đẩy chuỗi cung ứng. Thông tin chính là yếu tố kết nối tất cả các hoạt động và vận hành chuỗi cung ứng. Nếu thông tin là chính xác, kịp thời, các công ty trong chuỗi cung ứng có thể đưa ra những quyết định về hoạt động sản xuất đúng đắn. Điều này mang lại khả năng tối đa hóa lợi nhuận cho toàn chuỗi cung ứng. Thông tin được sử dụng nhằm 2 mục đích: 

Phối hợp những hoạt động hàng ngày có liên quan đến chức năng của 4 yếu tố là: sản xuất, tồn kho, địa điểm, và vận tải. Trong chuỗi cung ứng, các công ty sử dụng các dữ liệu sẵn có về cung và cầu hàng hóa để quyết định lịch trình sản xuất hàng tuần, các mức tồn kho, tuyến đường vận tải, và địa điểm lưu trữ hàng hóa. 

Dự báo và lập kế hoạch để lường trước và đáp ứng kịp thời nhu cầu về sản phẩm trong tương lai. Các dự báo mang tính chiến thuật dựa trên cơ sở những thông tin sẵn có, giúp doanh nghiệp lựa chọn lịch trình, thời gian biểu cho việc sản xuất hàng tháng, hàng quý. Bên cạnh đó, thông tin đóng vai trò rất lớn trong việc đưa ra những dự báo mang tầm chiến lược như: xây dựng phân xưởng mới, thâm nhập thị trường mới, hoặc rút lui khỏi thị trường hiện tại.

Trong phạm vi một công ty, cân đối giữa tính kịp thời và tính hiệu quả là đo lường lợi ích mà thông tin đem lại so với những chi phí có được thông tin đó. Thông tin chính xác, kịp thời có khả năng đưa ra những quyết định sản xuất hiệu quả, những dự báo chuẩn xác; nhưng chi phí để xây dựng và lắp đặt hệ thống cung cấp thông tin lại rất lớn. Trong phạm vi chuỗi cung ứng, các công ty quyết định tính kịp thời và tính hiệu quả chính là quyết định bao nhiêu thông tin chia sẻ cho các công ty khác, và bao nhiêu thông tin được giữ lại. Các công ty chia sẻ với nhau càng nhiều thông tin về sản phẩm, nhu cầu khách hàng, dự báo thị trường, lịch trình sản xuất…. thì mỗi công ty càng đáp ứng kịp thời hơn. Tuy nhiên, một khi thông tin được tiết lộ, lại khiến các công ty gia tăng lo ngại về việc thông tin đó bị đối thủ cạnh tranh sử dụng để chống lại chính mình. Chi phí tiềm ẩn này cộng thêm sự cạnh tranh ngày càng khốc liệt, có thể gây thiệt hại đến lợi nhuận của doanh nghiệp.

Bạn có thể tải bài luận văn này TẠI ĐÂY

Nếu bạn đang ngán ngẩm khi phải làm luận văn ngành quản trị chuỗi cung ứng, hãy liên hệ ngay với chúng tôi để nhận được sự hỗ trợ nhanh nhất.

Ngành quản trị văn phòng là gì?

Bạn chuẩn bị phải làm tiểu luận quản trị văn phòng, luận văn tốt nghiệp ngành quản trị văn phòng nhưng chưa biết bắt đầu từ đâu? Xem ngay bài viết của Luận Văn Việt  chuyên hỗ trợ viết luận văn để có thể tự làm ngay.

Ngành quản trị văn phòng là gì?
Ngành quản trị văn phòng là gì?

1. Ngành quản trị văn phòng là gì?

Quản trị văn phòng là một ngành liên quan đến việc thiết kế, triển khai thực hiện, theo dõi đánh giá và đảm bảo quá trình làm việc trong một văn phòng của một tổ chức luôn đạt năng suất và hiệu quả.

Ngành quản trị văn phòng làm gì?

Một người quản trị văn phòng có trách nhiệm giám sát và theo dõi hệ thống, thường tập trung vào các mục tiêu cụ thể như là khoảng thời gian được cải thiện, doanh thu, sản lượng, bán hàng.

Tại Việt Nam, ngành quản trị văn phòng có từ khá sớm, cung cấp nguồn nhân lực cho các cơ quan nhà nước, các tổ chức chính phủ.

2. Khái niệm và tài liệu lưu trữ

Trên thế giới, thuật ngữ “lưu trữ ” có từ thời cổ đại, bắt nguồn từ tiếng Hy- lạp “arch”, dùng để chỉ nơi làm việc của chính quyền. Về sau được dùng làm ngôi nhà bảo quản tài liệu. Do tài liệu thành văn ngày càng được sử dụng rộng rãi và trở thành một phương tiện quan trọng trong hoạt động quản lý của nhà nước chiếm hữu nô lệ Hi-lạp cổ đại, nên ngôi nhà bảo quản chúng trở thành tượng trưng cho sự tồn tại và hoạt động của bộ máy nhà nước. 

Thuật ngữ “lưu trữ” của nhiều nước châu Âu ngày nay vẫn còn mang dấu ấn đậm nét của gốc tiếng Hy-lạp cổ xưa này, như archives (Pháp), archiv (Đức, Tiệp), archivum (Ba Lan), apxub (Nga). Ngày nay ở một số nước nói trên, thuật ngữ này được định nghĩa là cơ quan hay đơn vị tổ chức trong một cơ quan làm nhiệm vụ bổ sung, bảo quản tài liệu và tổ chức sử dụng chúng vào các mục đích khoa học, kinh tế quốc dân, xã hội, văn hoá… gọi theo tiếng Việt đó là phòng, kho hoặc viện lưu trữ. 

Việt Nam, “lưu trữ” có nghĩa rộng là lưu lại, giữ lại. Đối với công văn, tài liệu thì “lưu trữ” có nghĩa là giữ lại các văn bản, giấy tờ của cơ quan đoàn thể hoặc cá nhân để làm bằng chứng và tra cứu khi cần thiết. Người ta thường nói: lưu trữ công văn, lưu trữ tài liệu, lưu trữ hồ sơ. Lê Quý Đôn trong tác phẩm bằng chữ Hán “Kiến văn tiểu lục” khi viết về chế độ công đường dinh thự các nha môn đời Hồng Đức (Lê Thánh Tông 1470 – 1497) đã dùng “trữ” để chỉ việc lưu trữ các thuế vật và sổ sách(1). Thời phong kiến còn dùng từ “dương án”để gọi những hồ sơ án được lưu trữ lâu dài(2) ở các cơ quan. 

Từ gốc “lưu trữ” là cơ sở để hình thành các thuật ngữ tài liệu lưu trữ và nhiều thuật ngữ khác có liên quan.

Tài liệu lưu trữ là tài liệu hình thành trong quá trình hoạt động của các cơc quan đoàn thể xí nghiệp(3) và cá nhân có ý nghĩa chính trị, kinh tế, văn hóa, khoa học, lịch sử và các ý nghĩa khác được bảo quản trong các phòng, kho lưu trữ. 

– Đặc trưng của tài liệu lưu trữ: 

Một là, tài liệu lưu trữ chứa đựng những thông tin về quá khứ, đó là các sự kiện, hiện tượng, biến cố lịch sử, những thành quả lao động sáng tạo của nhân dân ta trong các thời kỳ lịch sử, những hoạt động của một nước, một cơ quan hoặc của một nhân vật tiêu biểu trong quá trình tồn tại…. 

Hai là, tài liệu lưu trữ là bản gốc, bản chính của các văn bản. Chúng mang những bằng chứng thể hiện độ chân thực cao, như bút tích của tác giả, chữ ký của người có thẩm quyền, dấu của cơ quan, địa danh và ngày tháng làm ra tài liệu… Do đặc điểm này, mà tài liệu lưu trữ có giá trị đặc biệt, được trân trọng và bảo quản chu đáo để sử dụng trong quản lý nhà nước, nghiên cứu khoa học và vào các mục đích khác. Người ta gọi chúng là những tài liệu gốc, tư liệu gốc hoặc sử liệu gốc.

Ba là, tài liệu lưu trữ là sản phẩm phản ánh trực tiếp hoạt động của các cơ quan, chứa đựng nhiều bí mật quốc gia; mặt khác vì chúng là những tài liệu gốc, nếu bị hư hỏng, mất mát hoặc thất lạc thì không làm lại được và có thể gây nên những tổn thất lớn. Bởi vậy, cần được bảo quản trong các phòng và các kho lưu trữ, việc nghiên cứu và sử dụng chúng phải tuân theo những quy định chặt chẽ, chứ không thể đem ra trao đổi, mua bán tùy tiện. 

Các loại hình tư liệu: 

Ngày nay, do nhu cầu ngày càng cao của đời sống xã hội và sự phát triển của khoa học kỹ thuật, tài liệu hình thành trong hoạt động của các cơ quan và cá nhân ngày càng đa dạng về thể loại, phong phú về nội dung và lớn về khối lượng. Có thể chia tài liệu lưu trữ ra làm các loại tư liệu lớn: tài liệu hành chính, tài liệu khoa học kỹ thuật, tài liệu ảnh, phim điện ảnh và tài liệu ghi âm. 

Tài liệu hành chính là tài liệu có nội dung phản ánh những hoạt động về tổ chức và quản lý của các cơ quan trên các mặt chính trị, kinh tế, văn hóa, quân sự, ngoại giao…

Tài liệu hành chính ở nước ta có lịch sử lâu đời nhất – từ thời trung cổ, dưới các triều đại phong kiến Việt Nam, bao gồm các thể loại: chỉ, chiếu, tấu, sớ, sắc(4). Còn tài liệu hành chính của nhà nước dân chủ nhân dân trước đây và Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghiã Việt Nam ngày nay thì gồm các loại: hiến pháp, sắc lệnh, pháp lệnh, nghị định, thông tư, chỉ thị, nghị quyết, quyết định, kế hoạch, báo cáo, thông báo, thông cáo, hiệp định, hiệp ước, công văn trao đổi…. 

Trong Phòng lưu trữ quốc gia Việt Nam, tài liệu hành chính có khối lượng lớn nhất với nội dung rất phong phú, đặc biệt là tài liệu của các thời kỳ lịch sử cận, hiện đại. 

Tài liệu khoa học – kỹ thuật là loại hình tài liệu phản ánh các loại hoạt động về khoa học tự nhiên, chủ yếu được hình thành ở các cơ quan khoa học – kỹ thuật, các trường đại học, các cơ sở sản xuất, thiết kế kỹ thuật làm ra tài liệu, loại hình tài liệu này có nhiều điểm khác với tài liệu hành chính. 

Tài liệu khoa học – kỹ thuật gồm các loại như: đề án thiết kế các công trình xây dựng cơ bản, tài liệu thiết kế chế tạo máy, tài liệu về công nghệ, tài liệu điều tra địa chất, địa hình, tài liệu khí tượng thủy văn, tài liệu nghiên cứu khoa học, sáng chế phát minh, tài liệu khí tượng thủy văn, tài liệu nghiên cứu khoa học, sáng chế phát minh, tài liệu tiêu chuẩn quốc gia…. 

nước ta, tài liệu khoa học – kỹ thuật chiếm một tỷ lệ lớn trong Phông lưu trữ Quốc gia Việt Nam. Chúng được sử dụng rộng rãi trong xây dựng kinh tế, văn hóa, quốc phòng, nghiên cứu khoa học. Loại hình tài liệu này cũng đang không ngừng tăng lên của về khối lượng do sự phát triển của khoa học – kỹ thuật và nhu cầu về xây dựng chủ nghĩa xã hội của đất nước. 

Tài liệu ảnh, phim điện ảnh và tài liệu ghi âm là những loại hình tài liệu phản ánh các sự kiện, hiện tượng trong đời sống xã hội và tự nhiên bằng hình ảnh và âm thanh. Đây là những loại hình tài liệu đặc biệt, khác với tài liệu hành chính và tài liệu khoa học – kỹ thuật cả về hình thức và nội dung mang tin. 

Tài liệu ảnh là loại tài liệu phản ánh các sự kiện, hiện tượng bằng ảnh trực quan; tài liệu phim điện ảnh phản ánh căn cứ sự kiện, hiện tượng bằng hình ảnh động; còn tài liệu

ghi âm là loại hình tài liệu phản ánh các sự kiện, hiện tượng bằng âm thanh. Đây là ba loại tài liệu khác nhau, nhưng do chúng có những điểm giống nhau về phương pháp chế tác và kết cấu của vật liệu nên được đưa vào thể loại. 

Tài liệu lưu trữ phim điện ảnh, ảnh và ghi âm gồm có âm bản các bức ảnh, các cuốn phim chụp và quay về các sự kiện, hiện tượng có ý nghĩa chính trị, văn hóa, khoa học lịch sử và ý nghĩa khác những băng đĩa ghi âm ghi lại những bài nói, diễn văn của các vị lãnh đạo Đảng và Nhà nước, các hoạt động xã hội và hoạt động khoa học nổi tiếng, những lời ca, bản nhạc của các nhạc sĩ xuất sắc…. Các loại hình tài liệu này chủ yếu được hình thành ở các cơ quan thông tấn, báo chí, các xưởng phim, đài vô tuyến truyền hình, đài phát thanh trung ương và các địa phương. 

Phim ảnh và ghi âm có tác dụng to lớn đối với đời sống xã hội, nên ngày càng được sử dụng rộng rãi với kỹ thuật quay chụp và ghi âm không ngừng được cải tiến và chủng loại ngày càng phong phú. Trong Phông lưu trữ Quốc gia Việt Nam, tài liệu ảnh, phim điện ảnh và tài liệu ghi âm chiếm tỉ lệ không lớn nhưng đang không ngừng được bổ sung.

Ngoài ba loại hình tài liệu chủ yếu trên đây, còn có tài liệu nghiên cứu, sáng tác về khoa học xã hội, tài liệu hình thành trong quá trình sống và hoạt động của những nhân vật tiêu biểu. Các loại hình tài liệu này hiện chiếm tỷ lệ không đáng kể trong Phông lưu trữ Quốc gia Việt Nam và chủ yếu là tài liệu thành văn.

Ngành quản trị văn phòng là gì?
Ngành quản trị văn phòng là gì?

3. Ý nghĩa tác dụng của tài liệu lưu trữ

Tài liệu lưu trữ có vai trò quan trọng trong đời sống xã hội, do chúng chứa đựng những thông tin có ý nghĩa về nhiều mặt. 

Nếu xét một cách tổng quát thì tài liệu lưu trữ có ý nghĩa chính trị sâu sắc. Lịch sử đã chứng minh, bất kỳ thời đại nào và ở bất cứ quốc gia nào, thì các giai cấp trong xã hội, trước hết là giai cấp thống trị đều có ý thức sử dụng tài liệu lưu trữ như một thứ vũ khí sắc bén để chống lại giai cấp đối địch, bảo vệ quyền lợi và củng cố địa vị của mình. Ngay từ thời cổ đại, giới quý tộc chủ nô Hy Lạp và La Mã đã tổ chức nhiều kho lưu trữ tài liệu; coi các kho lưu trữ đó là nơi bảo quản các phương tiện để áp bức nô lệ và duy trì địa vị thống trị của chúng. Xi-xê-rô, một nhà triết học tiêu biểu cho tư tưởng bảo thủ và phản động của quý tộc chủ nô La Mã (năm 106-43 trước công nguyên) đã ví các sắc lệnh của Viện nguyên lão như là “thanh kiếm tra vào vỏ”. Đối với văn kiện của các viên thống đốc thì ông nói: “tất cả các mệnh lệnh và pháp lệnh của các quan thống đốc đều có ngụ ý phải tước hết vũ khí của người nô lệ(5).

Chính vì vậy, trong các cuộc khởi nghĩa của nô lệ và nông dân dưới chế độ nô lệ và chế độ phong kiến ở nhiều nước, trong đó có Việt Nam, các kho chứa tài liệu lưu trữ đã trở thành đối tượng mà quần chúng khởi nghĩa đốt phá không thương tiếc, nhằm xóa sạch mọi dấu tích của tài liệu – thứ vũ khí lợi hại đã gieo bao tai họa cho họ.

Dưới chế độ tư bản chủ nghĩa, giai cấp tư sản cầm quyền đã sử dụng tài liệu lưu trữ vào mục đích áp bức bóc lột giai cấp công nhân, đàn áp các cuộc đấu tranh của quần chúng, gây chíên tranh xâm lược… Ngược lại, giai cấp vô sản và những người lãnh đạo của họ cũng bằng mọi cách sử dụng các nguồn tài liệu lưu trữ để làm chứng cứ vạch trần bản chất thối nát của chế độ tư bản, bảo vệ lợi ích giai cấp, thức tỉnh và nâng cao ý chí đấu tranh cách mạng của công nhân và nhân dân lao động.

Việt Nam, trong thời kỳ thực dân Pháp thống trị, tài liệu lưu trữ đã bị chúng độc chiếm làm công cụ áp bức, bóc lột nhân dân ta. Từ sau cách mạng tháng Tám năm 1945, Đảng và Nhà nước ta đã chủ trương sử dụng triệt để tài liệu lưu trữ để phục vụ cho sự nghiệp xây dựng và phát triển kinh tế, văn hoá, củng cố quốc phòng, bảo vệ đất nước, đấu tranh chính trị, ngoại giao. Pháp lệnh bảo vệ tài liệu lưu trữ quốc gia do Hội đồng Nhà nước ban hành ngày 30 tháng 11 năm 1982 đã nhấn mạnh: “Tài liệu lưu trữ quốc gia là di sản của dân tộc có giá trị đặc biệt đối với công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước”(6) Pháp lệnh 34/2001. Nhiều văn bản khác của Đảng và Nhà nước cũng đã nói lên ý nghĩa chính trị sâu sắc của tài liệu lưu trữ.

Thực tiễn đã chứng minh rằng, bất cứ cơ quan nào, dù lớn hay nhỏ, là cơ quan khoa học kỹ thuật hay cơ quan quản lý hành chính trong khi thực hiện chức năng nhiệm vụ của mình, ít nhiều đều cần đến tài liệu lưu trữ, hoặc dùng làm bằng cứ để giải quyết những công việc cụ thể, hoặc tìm ở đấy những thông tin cần thiết và đáng tin cậy để phục vụ cho việc nghiên cứu tình hình, tổng kết và đúc rút kinh nghiệm công tác, vạch chủ trương, chính sách, đề ra các quyết định về quản lý, giáo dục truyền thống yêu nước, chủ nghĩa anh hùng cách mạng… Trong cuộc đấu tranh giai cấp chống kẻ thù trong và ngoài nước, tài liệu lưu trữ có thể cung cấp những chứng cứ hùng hồn về âm mưu và tội ác của bọn đế quốc xâm lược, những hành vi bán nước hại dân và lai lịch của những tên tay sai phản bội Tổ quốc.

Trong công cuộc xây dựng và phát triển nền kinh tế quốc dân, sử dụng tài liệu lưu trữ có thể mang lại hiệu quả kinh tế to lớn, tài liệu lưu trữ chứa nhiều thông tin về kinh tế, kỹ thuật rất cần thiết đối với nhiều ngành kinh tế của đất nước. Đó là những thành phố phản ánh tình hình kinh tế chung, tình hình phát triển kinh tế từng vùng, từng địa phương, từng ngành cụ thể, các đồ án thiết kế các công trình công nghiệp, giao thông vận tải, tài liệu điều tra về tài nguyên của đất nước, tài liệu khí tượng, thuỷ văn, các báo cáo và công trình nghiên cứu khoa học – kỹ thuật v.v… Các nguồn tài liệu này có thể giúp cho việc xây dựng chiến lược được hoàn chỉnh, sát thực và có cơ sở khoa học giúp các nhà thiết kế và chế tạo lựa chọn được những phương án tối ưu cho công trình của mình, chắp cánh cho những sáng chế và phát minh mới có giá trị. Sử dụng tài liệu lưu trữ trong xây dựng kinh tế còn tạo nên khả năng đẩy mạnh tiến độ khảo sát, thiết kế và thi công các công trình xây dựng cơ bản, khôi phục, sửa chữa nhanh chóng và đảm bảo chất lượng các công trình bị hư hỏng hoặc bị chiến tranh tàn phá. Do đó mà giảm được nhiều công sức của cán bộ, công nhân viên, tiết kiệm được nhiều vật tư và các chi phí khác của Nhà nước. 

Trong kho tàng văn hoá của dân tộc Việt Nam, tài liệu lưu trữ là một di sản quý báu. Di sản này phản ánh một cách trực tiếp thành quả lao động sáng tạo về vật chất và tinh thần của nhân dân ta qua các thời kỳ. Có thể xem đây là tấm gương phản chiếu trình độ tiến hoá của dân tộc trên nhiều mặt. Di sản này lại có vai trò rất quan trọng đối với việc nghiên cứu tiến trình phát triển về kinh tế, chính trị, xã hội, khoa học – kỹ thuật, văn học của đất nước Việt Nam, tức nền văn hoá Việt Nam nói chung. Trong quá trình xây dựng nền nhà nước mới của dân tộc, tài liệu lưu trữ cũng có ý nghĩa to lớn. Bởi trong quá trình này, việc kế thừa những tinh hoa văn hoá mà cha ông ta trải qua bao thế hệ đã hun đúc nên là một tất yếu tố khách quan. Lênin dạy rằng: “Văn hoá vô sản phải là sự phát triển hợp quy luật của tổng số những kiến thức mà loài người đã tích luỹ được dưới ách thống trị của xã hội tư bản, xã hội của bọn địa chủ và xã hội của bọn quan liêu”(7).

Để xem toàn bộ bài luận văn tốt nghiệp ngành quản trị văn phòng, bạn có thể dowload TẠI ĐÂY

Chia sẻ mẫu luận văn quản trị chất lượng

Bạn đang cần làm luận văn quản trị chất lượng nhưng chưa biết bắt đầu từ đâu? Luận văn việt chuyên giá thuê viết luận văn  bài mẫu luận văn ngành quản trị chất lượng chi tiết mà chúng tôi chia sẻ trong bài viết dưới đây.

Chia sẻ mẫu luận văn quản trị chất lượng
Chia sẻ mẫu luận văn quản trị chất lượng

1. Chất lượng và quản lý chất lượng

1.1. Khái niệm chất lượng

Chất lượng là mức độ tập hợp các đặc tính vốn có ñáp ứng các yêu cầu, hiểu một cách đơn giản chất lượng là sự ñáp ứng và thỏa mãn các yêu cầu. 

Theo Wiki, chất lượng hay đúng ra phẩm chất là một phạm trù phức tạp và có nhiều định nghĩa khác nhau. Có rất nhiều quan điểm khác nhau về chất lượng. Hiện nay có một số định nghĩa về chất lượng đã được các chuyên gia chất lượng đưa ra như sau:

“Chất lượng là sự phù hợp với nhu cầu” (Theo Juran – một Giáo sư người Mỹ).

“Chất lượng là sự phù hợp với các yêu cầu hay đặc tính nhất định” Theo Giáo sư Crosby.

” Chất lượng là sự sự thoả mãn nhu cầu thị trường với chi phí thấp nhất” Theo Giáo sư người Nhật – Ishikawa.

Trong mỗi lĩnh vực khác nhau, với mục đích khác nhau nên có nhiều quan điểm về chất lượng khác nhau. Tuy nhiên, có một định nghĩa về chất lượng được thừa nhận ở phạm vi quốc tế, đó là định nghĩa của Tổ chức Tiêu chuẩn hoá Quốc tế. Theo điều 3.1.1 của tiêu chuẩn ISO 9000:2005 định nghĩa chất lượng là: “Mức độ đáp ứng các yêu cầu của một tập hợp có đặc tính vốn có”

Chất lượng là khái niệm đặc trưng cho khả năng thoả mãn nhu cầu của khách hàng. Vì vậy, sản phẩm hay dịch vụ nào không đáp ứng được nhu cầu của khách hàng thì bị coi là kém chất lượng cho dù trình độ công nghệ sản xuất ra có hiện đại đến đâu đi nữa. Đánh giá chất lượng cao hay thấp phải đứng trên quan điểm người tiêu dùng. Cùng một mục đích sử dụng như nhau, sản phẩm nào thoả mãn nhu cầu tiêu dùng cao hơn thì có chất lượng cao hơn.

Yêu cầu của khách hàng đối với sản phẩm hay dịch vụ thường là: tốt, đẹp, bền, sử dụng lâu dài, thuận lợi, giá cả phù hợp.

1.2. Khái niệm quản lý chất lượng

Theo PM Book của Viện Quản lý Dự án (PMI) thì: “Quản lý chất lượng dự án bao gồm tất cả các hoạt động có định hướng và liên tục mà một tổ chức thực hiện để xác định đường lối, mục tiêu và trách nhiệm để dự án thỏa mãn được mục tiêu đã đề ra, nó thiết lập hệ thống quản lý chất lượng thông qua đường lối, các quy trình và các quá trình lập kế hoạch chất lượng, đảm bảo chất lượng và kiểm soát chất lượng”.

Chia sẻ mẫu luận văn quản trị chất lượng

2. Các nguyên tắc quản lý chất lượng

Nguyên tắc 1: Định hướng khách hàng

Nội dung: Doanh nghiệp phụ thuộc vào khách hàng của mình và vì thế cần hiểu các nhu cầu hiện tại và tương lai của khách hàng, để không những đáp ứng mà còn phấn đấu vượt cao hơn sự mong đợi của khách hàng

Phân tích: Chất lượng định hướng bởi khách hàng là một yếu tố chiến lược, dẫn tới khả năng chiếm lĩnh thị trường, duy trì và thu hút khách hàng. Nó đòi hỏi phải luôn nhạy cảm đối với những khách hàng mới, những yêu cầu thị trường và đánh giá những yếu tố dẫn tới sự thoả mãn khách hàng. Nó cũng đòi hỏi ý thức cải tiến, đổi mới công nghệ, khả năng thích ứng nhanh và đáp ứng nhanh chóng mau lẹ các yêu cầu của thị trường; giảm sai lỗi khuyết tật và những khiếu nại của khách hàng.

Chất lượng sản phẩm hàng hoá của một doanh nghiệp phải được định hướng bởi khách hàng, doanh nghiệp phải sản xuất, bán cái mà khách hàng cần chứ không phải cái mà doanh nghiệp có. Chất lượng sản phẩm dịch vụ hành chính công của một cơ quan hành chính nhà nước phải được định hướng bởi khách hàng là người dân, đáp ứng nhu cầu của người dân, vì dân phục vụ.

Các doanh nghiệp, tổ chức thực hiện hoạt động kinh doanh để tồn tại và phát triển đều với mục đích tìm kiếm lợi nhuận thông qua việc phục vụ thỏa mãn các nhu cầu của khách hàng. Điều đó có nghĩa là khách hàng chính là người mang lại nguồn lợi cho doanh nghiệp, có khách hàng nghĩa là có doanh số, lợi nhuận và vì thế công ty mới có thể tồn tại và phát triển được.

Nguyên tắc 2: Sự lãnh đạo

Nội dung: Lãnh đạo thiết lập sự thống nhất đồng bộ giữa mục đích và đường lối của doanh nghiệp. Lãnh đạo cần tạo ra và duy trì môi trường nội bộ trong doanh nghiệp để hoàn toàn lôi cuốn mọi người trong viêc đạt được các mục tiêu của doanh nghiệp

Phân tích: Hoạt động chất lượng sẽ không thể đạt được kết quả nếu không có sự cam kết triệt để của lãnh đạo cấp cao. Lãnh đạo tổ chức phải có tầm nhìn xa, xây dựng những giá trị rõ ràng, cụ thể và định hướng vào khách hàng. Để củng cố những mục tiêu này cần có sự cam kết và tham gia của từng cá nhân lãnh đạo với tư cách là một thành viên của tổ chức. Lãnh đạo phải chỉ đạo và xây dựng các chiến lược, hệ thống và các biện pháp huy động sự tham gia và tính sáng tạo của mọi nhân viên để xây dựng, nâng cao năng lực của tổ chức và đạt kết quả tốt nhất có thể được.

Qua việc tham gia trực tiếp vào các hoạt động như lập kế hoạch, xem xét đánh giá hoạt động của tổ chức, ghi nhận những kết quả hoạt động của nhân viên, lãnh đạo có vai trò củng cố giá trị và khuyến khích sự sáng tạo, đi đầu ở mọi cấp trong toàn bộ tổ chức.

Quản lý chất lượng là tập hợp những hoạt động của chức năng quản lý chung xác định chính sách chất lượng,mục đích trách nhiệm và thực hiện chúng thông qua các biện pháp như lập kế hoạch chất lượng,điều khiển chất lượng,đảm bảo chất lượng và cải tiến chất lượng trong khuôn khổ hệ thống chất lượng. Như vậy, để quản lý và duy trì hệ thống quản lý chất lượng một cách hiệu quả thì vai trò của sự lãnh đạo là rất quan trọng.

Nguyên tắc 3: Sự tham gia của mọi người

Nội dung: Con người là nguồn lực quan trọng nhất của một doanh nghiệp và sự tham gia đầy đủ với những hiểu biết và kinh nghiệm của họ rất có ích cho doanh nghiệp.

Phân tích: Con người là nguồn lực quý nhất của một tổ chức và sự tham gia đầy đủ với những hiểu biết và kinh nghiệm của họ rất có ích cho tổ chức. Để đạt được kết quả trong việc cải tiến chất lượng thì kỹ năng, nhiệt tình, ý thức trách nhiệm của người lao động đóng một vai trò quan trọng. Lãnh đạo tổ chức phải tạo điều kiện để mọi nhân viên có điều kiện học hỏi nâng cao kiến thức, trình độ nghiệp vụ chuyên môn, quản lý.

Phát huy được nhân tố con người trong tổ chức chính là phát huy được nội lực tạo ra một sức mạnh cho tổ chức trên con đường vươn tới mục tiêu chất lượng. Doanh nghiệp được coi như một hệ thống hoạt động với sự tham gia của tất cả mọi thành viên trong doanh nghiệp. Sự thành công của doanh nghiệp chính từ sự đóng góp công sức nỗ lực của tất cả mọi người. Trong quá trình quản lý hệ thống chất lượng thì toàn bộ đội ngũ của công ty, từ vị trí cao nhất tới thấp nhấp, đều có vai trò quan trọng như nhau trong thực hiện và duy trì hệ thống chất lượng. Tất cả đều ý thức không ngừng quan tâm, cải thiện chất lượng sản phẩm, dịch vụ cung cấp cho khách hàng. Mỗi cương vị công tác sẽ có hành vi công việc và ứng xử phù hợp với vị trí của mình.

Nguyên tắc 4: Tiếp cận theo quá trình

Nội dung: Kết quả mong muốn sẽ đạt được một cách hiệu quả khi các nguồn và các hoạt động có liên quan được quản lý như một quá trình.

Phân tích: Quá trình là tập hợp các hoạt động có liên quan với nhau được tiến hành theo một trình tự hợp lí để tạo ra các kết quả/sản phẩm có giá trị cho tổ chức. Nói một cách khác, quá trình là dây chuyền sản xuất ra những sản phẩm hữu ích dành cho khách hàng bên ngoài hay khách hàng nội bộ. Để hoạt động hiệu quả, tổ chức phải xác định và quản lí nhiều quá trình có liên quan và tương tác lẫn nhau. Thông thường, đầu ra của một quá trình sẽ tạo thành đầu vào của quá trình tiếp theo. Việc xác định một cách có hệ thống và quản lí các quá trình được triển khai trong tổ chức và đặc biệt quản lí sự tương tác giữa các quá trình đó được gọi là cách “tiếp cận theo quá trình”.

Quản lý chất lượng phải được xem xét như một quá trình, kết quả của quản lý sẽ đạt được tốt khi các hoạt động có liên quan được quản lý như một quá trình. Quá trình là một dãy các sự kiện nhờ đó biến đổi đầu vào thành đầu ra. Để quá trình đạt được hiệu quả thì giá trị của đầu ra phải lớn hơn đầu vào, có nghĩa là quá trình gia tăng giá trị.

Trong một tổ chức, đầu vào của quá trình này là đầu ra của quá trình trước đó, và toàn bộ quá trình trong tổ chức tạo thành hệ thống mạng lưới của quá trình. Quản lý hoạt động của một tổ chức thực chất là quản lý các quá trình và các mối quan hệ giữa chúng. Quản lý tốt mạng lưới quá trình này cùng với sự đảm bảo đầu vào nhận được từ bên cung cấp, sẽ đảm bảo chất lượng đầu ra để thoả mãn nhu cầu khách hàng.

Cách tiếp cận định hướng tới khách hàng theo quá trình giúp cho việc kiểm soát chất lượng hệ thống được chặt chẽ hơn, đảm bảo tất cả các quá trình đều được giám sát và chịu sự kiểm tra của hệ thống. Điều này hướng đến việc nâng cao chất lượng nhằm thỏa mãn nhu cầu khách hàng một cách tốt nhất.

Nguyên tắc 5: Quản lý theo hệ thống

Nội dung: Việc xác định, hiểu biết và quản lý một hệ thống các quá trình có liên quan lẫn nhau đối với mục tiêu đề ra sẽ đem lại hiệu quả của doanh nghiệp.

Phân tích: Tổ chức không thể giải quyết bài toán chất lượng theo từng yếu tố tác động đến chất lượng một cách riêng lẻ mà phải xem xét toàn bộ các yếu tố tác động đến chất lượng một cách hệ thống và đồng bộ, phối hợp hài hoà các yếu tố này. Phương pháp hệ thống của quản lý là cách huy động, phối hợp toàn bộ nguồn lực để phục vụ mục tiêu chung của tổ chức. Việc xác định, hiểu biết và quản lý một hệ thống các quá trình có liên quan lẫn nhau đối với mục tiêu đề ra sẽ đem lại hiệu quả cho tổ chức.

Nguyên tắc 6. Cải tiên liên tục

Nội dung: Cải tiến liên tục là mục tiêu, đồng thời cũng là phương pháp của mọi doanh nghiệp. Muốn có được khả năng cạnh tranh và mức độ chất lượng cao nhất, doanh nghiệp phải liên tục cải tiến.

Phân tích: Chất lượng định hướng bởi khách hàng, mà nhu cầu mong muốn của khách hàng là luôn luôn biến đổi theo xu hướng muốn thoả mãn ngày càng cao các yêu cầu của mình, bởi vậy chất lượng cũng luôn cần có sự đổi mới. Muốn có sự đổi mới và nâng cao chất lượng thì phải thực hiện cải tiến liên tục, không ngừng.

Cải tiến là mục tiêu, đồng thời cũng là phương pháp của mọi tổ chức. Muốn có được khả năng cạnh tranh với mức độ chất lượng cao nhất tổ chức phải liên tục cải tiến. Sự cải tiến đó có thể là từng bước nhỏ hoặc nhảy vọt. Cải tiến đó có thể là cải tiến phương pháp quản lý, cải tiến, đổi mới các quá trình, các thiết bị, công nghệ, nguồn lực, kể cả cách sắp xếp bố trí lại cơ cấu tổ chức quản lý. Tuy nhiên trong cải tiến cần phải tính kỹ và mang tính chắc chắn, bám chắc vào mục tiêu của tổ chức.

Nguyên tắc 7. Quyết định dựa trên sự kiện

Nội dung: Mọi quyết định và hành động của hệ thống quản lý hoạt động kinh doanh muốn có hiệu quả phải được xây dựng dựa trên việc phân tích dữ liệu và thông tin.

Phân tích: Mọi quyết định và hành động của hệ thống quản lý chất lượng muốn có hiệu quả phải được xây dựng dựa trên việc phân tích dữ liệu và thông tin một cách chính xác. Không quyết định dựa trên việc suy diễn. Việc đánh giá phải bắt nguồn từ chiến lược của tổ chức, các quá trình quan trọng, các yếu tố đầu vào, đầu ra của các quá trình đó.

Nguyên tắc 8. Quan hệ hợp tác cùng có lợi với người cung ứng

Nội dung: Doanh nghiệp và người cung ứng phụ thuộc lẫn nhau, và mối quan hệ tương hỗ cùng có lợi sẽ nâng cao năng lực của cả hai bên để tạo ra giá trị.

Phân tích: Các tổ chức cần tạo dựng mối quan hệ hợp tác nội bộ với bên ngoài tổ chức để đạt được mục tiêu chùng. Các mối quan hệ nội bộ, tạo sự đoàn kết nội bộ, thúc đẩy sự hợp tác giữa lãnh đạo và người lao động, tạo lập các mối quan hệ mạng lưới giữa các bộ phận trong tổ chức để tăng cường sự linh hoạt và khả năng đáp ứng nhanh. Các mối quan hệ bên ngoài là những mối quan hệ với khách hàng, người cung cấp, các đối thủ cạnh tranh, các tổ chức đào tạo, các cơ quan quản lý, chính quyền địa phương… Những mối quan hệ liên quan ngày càng quan trọng, nó là những mối quan hệ chiến lược, chúng có thể giúp tổ chức thâm nhập thị trường, mở rộng thương hiệu hoặc thiết kế những sản phẩm và dịch vụ mới. Các bên quan hệ cần chú ý đến những yêu cầu quan trọng, đảm bảo sự thành công của quan hệ hợp tác, cách thức giao lưu thường xuyên, giữ những nguyên tắc trong quan hệ với từng nhóm đối tượng.  

3. Vai trò của quản lý chất lượng

Theo quan điểm hiện đại thì QLCL chính là các hoạt động quản lý có chất lượng. QLCL do ñó giữ một vai trò quan trọng trong đời sống của nhân dân và sự phát triển của một tổ chức. 

Đối với nền kinh tế: Đảm bảo nâng cao chất lượng sản phẩm, dịch vụ sẽ tiết kiệm được lao động cho xã hội, sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên và các công cụ lao động, đồng thời tạo ra giá trị gia tăng lớn hơn. 

Đối với người tiêu dùng sản phẩm, dịch vụ: Khi sử dụng sản phẩm có chất lượng thì yên tâm hơn về chất lượng sản phẩm và giá cả, từ đó tạo ra uy tín cho doanh nghiệp (tổ chức), mặt khác cũng mang lại cho người tiêu dùng sự gia tăng về giá trị sử dụng sản phẩm, dịch vụ. Đối với tổ chức (doanh nghiệp): Được gia tăng về sản lượng, khách hàng, doanh thu, thị phần, lợi nhuận, gia tăng đầu tư phát triển mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh dịch vụ. QLCL tạo cho tổ chức điều kiện để phát triển, cạnh tranh lành mạnh. Tạo dựng và phát triển được văn hóa chất lượng của tổ chức. 

Đảm bảo chất lượng trở thành ý thức tự giác của mỗi người trong hoạt động vì mục tiêu phát triển tổ chức. Một tổ chức QLCL tốt chính là phát huy được vai trò của lãnh đạo và huy động được sự tham gia của mọi thành viên trong tổ chức. Mỗi thành viên đều ñược sự quan tâm của lãnh đạo, đảm bảo nâng cao đời sống vật chất và tinh thần. Họ sẽ thấy tự hào khi là thành viên của tổ chức. Thông qua hoạt động QLCL tốt sẽ cho ra những sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ thỏa mãn khách hàng và các bên quan tâm. Điều đó chính là tổ chức luôn có trách nhiệm với xã hội, cộng đồng. Đó cũng là cơ sở nền tảng, cốt lõi cho sự trường tồn của tổ chức.

Để xem toàn bộ mẫu luận văn quản trị chất lượng, bạn có thể dowload TẠI ĐÂY

Từ khóa liên quan: ngành quản trị chất lượng là gì, ngành quản trị chất lượng làm gì

Khái niệm quản trị chiến lược

Bạn sắp phải làm luận văn quản trị chiến lược hoặc luận văn thạc sĩ quản trị chiến lược? Dù là cấp độ nào, thì bạn cũng có thể tham khảo cách làm dưới đây mà Luận Văn Việt chuyên hỗ trợ viết luận văn chia sẻ trong bài viết này. 

Cơ sở lý luận trong luận văn quản trị chiến lược
Cơ sở lý luận trong luận văn quản trị chiến lược

1. Một số định nghĩa khái niệm về chiến lược và quản trị chiến lược trong kinh doanh

1.1. Khái niệm về chiến lược

Chiến lược là một từ có nguồn gốc từ lĩnh vực quân sự, đó là phương cách để chiến thắng trong một cuộc chiến tranh. Có nhiều định nghĩa khác nhau nhưng có thể hiểu chiến lược là chương trình hành động, kế hoạch hành động được thiết kế để đạt được một mục tiêu cụ thể, là tổ hợp các mục tiêu dài hạn và các biện pháp, các cách thức, con đường đạt đến các mục tiêu đó. 

Ngày nay, thuật ngữ chiến lược trong lĩnh vực kinh doanh được các chuyên gia kinh tế đưa ra như sau: 

Nhà chiến lược cạnh tranh (Mỹ) Michael Porter: “Chiến lược kinh doanh là nghệ thuật xây dựng lợi thế cạnh tranh” 

K.Ohmae: “Mục đích của chiến lược kinh doanh là mang lại điều thuận lợi nhất cho một phía, đánh giá đúng thời điểm tấn công hay rút lui, xác định ranh giới của sự thỏa hiệp”.

Chiến lược kinh doanh nhằm đảm bảo sự thành công của doanh nghiệp. Không có đối thủ cạnh tranh thì không cần chiến lược, mục đích của chiến lược là đảm bảo thắng lợi trước đối thủ cạnh tranh.

1.2. Khái niệm quản trị chiến lược

Có nhiều định nghĩa khác nhau về quản lý chiến lược mà ta có thể đề cập đến như sau: 

Quản lý chiến lược là quá trình quản lý việc theo đuổi chức năng nhiệm vụ của một tổ chức trong khi quản lý mối quan hệ tổ chức đó đối với môi trường của nó.

Quản lý chiến lược là tập hợp các quyết định và hành động quản lý quyết định sự thành công lâu dài của công ty.

Quản lý chiến lược là tập hợp các quyết định và biện pháp hành động dẫn đến việc hoạch định và thực hiện các chiến lược nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức.

Trong khuôn khổ luận văn này, ta dùng định nghĩa sau làm cơ sở: 

“ Quản lý chiến lược là quá trình nghiên cứu các môi trường hiện tại cũng như trong tương lai, hoạch định các mục tiêu của tổ chức; đề ra, thực hiện và kiểm tra việc thực hiện các quyết định nhằm đạt được các mục tiêu đó trong môi trường hiện tại cũng như tương lai” 

(Nguồn :Garry D. Smith – Danny R. Arnold – Boby R. Bizzell, “Chiến lược và Sách lược kinh doanh”, NXB Lao động – Xã hội, 2007)

Khái niệm quản trị chiến lược
Khái niệm quản trị chiến lược

2. Ý nghĩa của việc quản trị chiến lược

Trong điều kiện biến động của môi trường kinh doanh hiện nay, hơn bao giờ hết, chỉ có một điều mà các công ty có thể biết chắc chắn, đó là sự thay đổi. Quá trình quản trị chiến lược như là một hướng đi, một hướng đi giúp các tổ chức này vượt qua sóng gió trong thương trường, vươn tới một tương lai, bằng chính nổ lực và khả năng của chúng. Đây là kết quả của sự nghiên cứu khoa học trên cơ sở thực tiễn kinh doanh của rất nhiều công ty. Nó thực sự là một sản phẩm của khoa học quản lý, bởi lẽ nếu các tổ chức xây dựng được một quá trình quản trị tốt, họ sẽ có một chỗ dựa tốt để tiến lên phía trước. Tuy vậy, mức độ thành công còn phụ thuộc vào mức độ triển khai, sẽ được đề cập trong phần áp dụng chiến lược, chính nó thể hiện một nghệ thuật trong quản trị.

Quá trình quản trị chiến lược dựa vào quan điểm là các công ty theo dõi một cách liên tục các sự kiện xảy ra cả trong và ngoài công ty cũng như các xu hướng để có thể đề ra các thay đổi kịp thời. Cả số lượng và mức độ của những thay đổi tác động mạnh đến các công ty đã tăng lên nhanh chóng trong thời gian vừa qua. Để có thể tồn tại, tất cả các tổ chức bắt buộc phải có khả năng thay đổi và thích ứng với những biến động. Quá trình quản trị chiến lược được xây dựng nhằm mục tiêu giúp công ty tập trung thích ứng một cách tốt nhất đối với những thay đổi trong dài hạn.

3. Các cấp quản lý chiến lược

Quản lý chiến lược có thể tiến hành ở các cấp khác nhau trong một tổ chức:

– Chiến lược cấp công ty xác định ngành kinh doanh mà hãng đang hoặc sẽ phải tiến hành, mỗi ngành cần tiến hành như thế nào và nó có quan hệ với xã hội như thế nào? 

– Chiến lược cấp cơ sở kinh doanh xác định từng cơ sở có thể hoàn thành chức năng nhiệm vụ của mình như thế nào trong lĩnh vực của mình. 

– Chiến lược cấp bộ phận chức năng tập trung hỗ trợ cho chiến lược cấp công ty và chiến lược cấp cơ sở kinh doanh.

4. Các bước hoạch định chiến lược

4.1. Phân tích môi trường

Việc quản lý chiến lược tốt phụ thuộc vào sự am hiểu tường tận các điều kiện môi trường mà tổ chức đang phải đương đầu. Các yếu tố môi trường có ảnh hưởng sâu rộng vì chúng ảnh hưởng đến toàn bộ các bước tiếp theo của quá trình quản lý chiến lược. 

Môi trường tổng quát mà tổ chức gặp phải có thể chia thành 3 mức độ: Môi trường vĩ mô, môi trường tác nghiệp và môi trường bên trong. Môi trường vĩ mô ảnh hưởng đến tất cả các ngành kinh doanh, nhưng không nhất thiết phải theo một cách nhất định. Môi trường tác nghiệp được xác định đối với mỗi ngành công nghiệp cụ thể. Và môi trường bên trong là tổng hợp các yếu tố bên trong công ty.

4.2. Xác định sứ mệnh và mục tiêu

Khái niệm sứ mệnh 

Sứ mệnh chính là triết lý kinh doanh của Công ty hoặc là xác định công việc kinh doanh của công ty, bản sứ mệnh kinh doanh cho thấy tầm nhìn lâu dài của một tổ chức liên quan đến những gì mà họ mong muốn trong tương lai. Nó có giá trị lâu dài về mục đích và phân biệt doanh nghiệp này với doanh nghiệp khác.

Mục tiêu 

Mục tiêu chỉ định những đối tượng riêng biệt hay những kết quả kinh doanh mà doanh nghiệp muốn đạt tới. Sau khi đề ra sứ mệnh (nhiệm vụ) làm định hướng phải tiến hành hoạch định các mục tiêu dài hạn và mục tiêu ngắn hạn. Mọi mục tiêu đề ra cần phải cụ thể, linh hoạt, định lượng được, có tính khả thi, nhất quán và hợp lý.

Mục tiêu dài hạn: Là mục tiêu cho thấy những kết quả mong muốn trong một thời gian dài. Mục tiêu dài hạn thường thiết lập cho những vấn đề: Khả năng kiếm lợi nhuận, năng suất, vị trí cạnh tranh, phát triển nguồn nhân lực, quan hệ nhân viên, dẫn đạo kỹ thuật, trách nhiệm với xã hội.

Mục tiêu ngắn hạn: Là những mục tiêu rất biệt lập và đưa ra những kết quả một cách chi tiết. Chúng là những kết quả riêng biệt mà công ty kinh doanh có ý định phát sinh trong vòng chu kỳ quyết định tiếp theo.

4.3. Phân tích và lựa chọn chiến lược

Mỗi một đơn vị kinh doanh đều có kế hoạch tác chiến của mình. Mặc dù có một số kế hoạch tác nghiệp mang tính ảo, khả năng thành công sẽ lớn hơn nhiều nếu kế hoạch có tính thực. Kế hoạch thực tổng thể gọi là chiến lược công ty và nó nhằm vào mục đích làm sao để đạt được mục tiêu công ty đề ra. 

Chiến lược cấp công ty thường liên quan nhiều nhất đến các công ty, doanh nghiệp đầu tư vào nhiều lĩnh vực với một vài ngành kinh doanh. Đối với các công ty kiểu này cần phải chú ý đến các vấn đề có tính nền tảng sau: 

  • Ngành kinh doanh nào cần tiếp tục? 
  • Ngành kinh doanh nào cần loại bỏ? 
  • Ngành kinh doanh nào mới cần tham gia? 

Trọng tâm của công tác kế hoạch hóa công ty là hình thành một thể thống nhất khả thi từ một tập hợp đa dạng, chiến lược công ty phải chỉ ra định hướng cho toàn bộ các mặt hoạt động của công ty. Vì vậy, các phương án chiến lược công ty có nhiệm vụ: 

– Hoạch định những gì cấp công ty cần làm và những gì không cần làm.

– Điều chỉnh cơ cấu và trọng tâm của các mặt hoạt động kinh doanh mà hãng đã lựa chọn.

Để xem toàn bộ nội dung của bài luận văn quản trị chiến lược, bạn có thể dowload TẠI ĐÂY

Phân loại rủi ro

Quản trị rủi ro là gì? Có những loại rủi ro nào? Vì sao phải quản trị rủi ro? Nếu bạn đang phải làm luận văn quản trị rủi ro, hãy xem ngay bài viết này để tham khảo cách làm một bài luận văn về quản trị rủi ro mà Luận Văn Việt chuyên hỗ trợ viết luận văn chia sẻ trong bài viết này.

Quản trị rủi ro là gì?
Quản trị rủi ro là gì?

1. Khái niệm rủi ro

Theo Wiki, cho đến nay chưa có được định nghĩa thống nhất về rủi ro. Những trường phái khác nhau, các tác giả khác nhau đưa ra những định nghĩa rủi ro khác nhau. Những định nghĩa này rất phong phú và đa dạng, nhưng tập trung lại có thể chia thành hai trường phái lớn: Trường phái truyền thống Trường phái hiện đại Theo trường phái truyền thống, rủi ro được xem là sự không may mắn, sự tổn thất mất mát, nguy hiểm. Nó được xem là điều không lành, điều không tốt, bất ngờ xảy đến. Đó là sự tổn thất về tài sản hay là sự giảm sút lợi nhuận thực tế so với lợi nhuận dự kiến. Rủi ro còn được hiểu là những bất trắc ngoài ý muốn xảy ra trong quá trình kinh doanh, sản xuất của doanh nghiệp, tác động xấu đến sự tồn tại và phát triển của một doanh nghiệp.Tóm lại, theo quan điểm này thì rủi ro là những thiệt hại, mất mát, nguy hiểm hoặc các yếu tố liên quan đến nguy hiểm, khó khăn hoặc điều không chắc chắn có thể xảy ra cho con người. Theo trường phái hiện đại, rủi ro (risk) là sự bất trắc có thể đo lường được, vừa mang tính tích cực, vừa mang tính tiêu cực. Rủi ro có thể mang đến những tổn thất mất mát cho con người nhưng cũng có thể mang lại những lợi ích, những cơ hội. Nếu tích cực nghiên cứu rủi ro, người ta có thể tìm ra những biện pháp phòng ngừa, hạn chế những rủi ro tiêu cực, đón nhận những cơ hội mang lại kết quả tốt đẹp cho tương lai.

Rủi ro phụ thuộc vào ngữ cảnh, nếu con người không có khái niệm hoặc không liên quan đến thì họ không có rủi ro. Ví dụ trời mưa sẽ là rủi ro với người đi đường nhưng người ở trong phòng đóng kín cửa, không bị ảnh hưởng thì không có rủi ro. Rủi ro bao gồm 3 yếu tố: xác suất xảy ra (Probability), khả năng ảnh hưởng đến đối tượng (Impacts on objectives) và thời lượng ảnh hưởng (Duration). Bản chất rủi ro là sự không chắc chắn (uncertainty), nếu chắc chắn (xác suất bằng 0% hoặc 100%) thì không gọi là rủi ro.

2. Phân loại rủi ro

Phân loại rủi ro
Phân loại rủi ro

Rủi ro sự cố: Là rủi ro gắn liền với những sự cố ngoài dự kiến, đây là những rủi ro khách quan khó tránh khỏi (nó gắn liền với yếu tố bên ngoài). 

Rủi ro cơ hội: Là rủi ro gắn liền với quá trình ra quyết định của chủ thể. 

Nếu xét theo quá trình ra quyết định thì rủi ro cơ hội bao gồm:  Rủi ro liên quan đến giai đoạn trước khi ra quyết định; Rủi ro trong quá trình ra quyết định;  

Rủi ro liên quan đến giai đoạn sau khi ra quyết định. 

  • Rủi ro thuần túy và rủi ro suy đoán:  Rủi ro thuần túy tồn tại khi có một nguy cơ tổn thất nhưng không có cơ hội kiếm lời, hay nói cách khác là rủi ro trên đó không có khả năng có lợi cho chủ thể.  Rủi ro suy đoán tồn tại khi có một cơ hội kiếm lời cũng như một nguy cơ tổn thất, hay nói cách khác là rủi ro vừa có khả năng có lợi, vừa có khả năng tổn thất.

Rủi ro có thể phân tán và rủi ro không thể phân tán

Rủi ro có thể phân tán: Là rủi ro có thể giảm bớt tổn thất thông qua những thỏa hiệp đóng góp (như tài sản, tiền bạc…) và chia sẻ rủi ro.  

Rủi ro không thể phân tán: Là rủi ro mà những thỏa hiệp đóng góp về tiền bạc hay tài sản không có tác dụng gì đến việc giảm bớt tổn thất cho những người tham gia vào quỹ đóng góp chung. 

  • Rủi ro trong các giai đoạn phát triển của doanh nghiệp:  

Rủi ro trong giai đoạn khởi sự: Rủi ro không được thị trường chấp nhận.  

Rủi ro giai đoạn trưởng thành: Rủi ro tốc độ tăng trưởng của kết quả “doanh thu max” không tương hợp với tốc độ phát triển của “chi phí min”.  

Rủi ro giai đoạn suy vong: Rủi ro phá sản. 

3. Khái niệm quản trị rủi ro

Quản trị rủi ro là quá trình bao gồm các hoạt động nhận dạng, phân tích, đo lường, đánh giá rủi ro, để từ đó tìm các biện pháp kiểm soát, khắc phục các hậu quả của rủi ro đối với hoạt động kinh doanh nhằm sử dụng tối ưu các nguồn lực trong kinh doanh.

4. Vai trò và lợi ích của việc quản trị rủi ro trong doanh nghiệp

4.1.  Công cụ hiệu quả trong việc đầu tư và phát triển kinh doanh

Khi doanh nghiệp triển khai thành công khung quản trị rủi ro sẽ giúp doanh nghiệp sở hữu một công cụ hữu ích hiệu quả để có thể tạo thêm những giá trị kinh doanh mới, những nguồn doanh thu mới, những dự án thành công và bảo toàn các giá trị cho các doanh nghiệp.

4.2. Là yếu tố quan trọng mang lại thành công cho các dự án kinh doanh

Hiểu về các yếu tố có thể mang đến bất lợi cho dự án, doanh nghiệp của mình chính là điều quan trọng trong tầm nhìn người kinh doanh. Hiểu được những rủi ro có thể xảy ra sẽ giúp bạn tránh được những thiệt hại không đáng có, có thêm thời gian lên kế hoạch ngăn chặn trước khi rủi ro xảy ra.

4.3. Ngăn chặn dòng tiền được sử dụng phung phí

Quản trị rủi ro sẽ cho thấy được cái nhìn bao quát toàn diện để có thể chỉ ra và loại bỏ những điều bất lợi, thừa thải không cần thiết trong doanh nghiệp để giảm tối đa chi phí đầu tư. Đồng thời quản trị rủi ro cũng có thể chỉ ra những chi phí phát sinh trong quá trình đầu tư và phát triển doanh nghiệp.

4.4. Cơ sở để xác định thứ tự ưu tiên trong quản lý để sắp xếp công việc

Quản trị rủi ro chính là cơ sở để xử lý các rủi ro chính trong doanh nghiệp để có thể tối ưu hóa nguồn lực doanh nghiệp, tối ưu hóa mối quan hệ rủi ro và lợi nhuận đồng thời giám sát một cách hiệu quả nhất các hoạt động của doanh nghiệp thông qua chỉ số rủi ro chính,…

Bạn có thể tải bài mẫu luận văn quản trị rủi ro tín dụng đầy đủ TẠI ĐÂY

Vai trò của hoạt động quản trị bán hàng

Nếu bạn đang phải làm luận văn quản trị bán hàng và cần tham khảo nguồn tài liệu thì hãy xem ngay bài viết sau đây của Luận Văn Việt chuyên giá viết luận văn thạc sĩ.

Quản trị bán hàng là gì? 
Quản trị bán hàng là gì?

1. Khái niệm về bán hàng và quản trị bán hàng

Khái niệm bán hàng

Theo James.M.Comer thì “Bán hàng là một hoạt động mang tính cá nhân trong đó người bán tìm hiểu, khám phá, gợi tạo và đáp ứng những nhu cầu hay ước muốn của người mua nhằm thỏa mãn quyền lợi thỏa đáng, lâu dài của hai bên”.

Từ đó, có thể hiểu hoạt động bán hàng hiện đại như là một hoạt động giao tiếp mà người bán khám phá nhu cầu hoặc làm phát sinh nhu cầu của đối tượng đồng thời khẳng định khả năng đáp ứng nhu cầu đó bằng lợi ích của sản phẩm nhằm thỏa mãn nhu cầu của cả khách hàng và công ty.

Khái niệm về quản trị bán hàng

Quản trị bán hàng là hoạt động quản trị của những người thuộc lực lượng bán hàng của doanh nghiệp hoặc những người hỗ trợ cho lực lượng bán hàng bao gồm những hoạt động chính như lập kế hoạch, phân tích, dự báo, thực hiện và kiểm tra hoạt động bán hàng.

Như vậy, quản trị bán hàng là một tiến trình kết hợp chặt chẽ từ việc thiết lập mục tiêu, chiến lược bán hàng đến việc tuyển dụng, huấn luyện, giám sát và đánh giá kết quả công việc của nhân viên bán hàng.

2. Mục tiêu của hoạt động quản trị bán hàng

Hoạt động của lực lượng bán hàng mang ý nghĩa quan trọng giúp cho doanh nghiệp tiếp cận thị trường nhằm thuyết phục khách hàng mua, sử dụng và trung thành với sản phẩm. Các công ty thành công trong lĩnh vực bán hàng đều có những mục tiêu rõ ràng trong quản trị bán hàng và chiến lược để đạt được mục tiêu đó. Mục tiêu quản trị bán hàng ở từng giai đoạn, từng ngành hàng là khác nhau song chủ yếu nhắm đến hai mục tiêu sau:

Mục tiêu về nhân sự 

Mục tiêu này liên quan đến quá trình tuyển chọn nhân sự với những tiêu chuẩn được xây dựng rõ ràng, kỹ lưỡng nhằm xây dựng một đội ngũ bán hàng chuyên nghiệp, năng động, hoàn thành tốt nhiệm vụ cũng như khả năng sáng tạo trong bán hàng. Do đó nhiệm vụ của nhà quản trị bán hàng phải tuyển dụng và đào tạo một đội ngũ bán hàng hiệu quả, có chính sách khen thưởng hợp lý, xây dựng mối quan hệ bền vững với nhân viên. Sự phối hợp nhịp nhàng và tinh thần làm việc tập thể với năng suất cao sẽ đem lại thành công cho bộ phận bán hàng. 

Mục tiêu về doanh số, lợi nhuận 

Mục tiêu tiếp theo mà nhà quản trị bán hàng hướng đến là mục tiêu về doanh số, lợi nhuận. Mục tiêu về doanh số được thể hiện bằng giá trị, doanh số hay thị phần… Mục tiêu về doanh số và lợi nhuận là thước đo thực tế đánh giá năng lực và hiệu quả trong công tác quản trị bán hàng. Để đạt được mục tiêu về doanh số thì ngay từ người giám sát ở cấp thấp nhất cũng phải đôn đốc nhân viên và có chiến lược hành động cụ thể. Bên cạnh đó người quản trị cấp cao cần có những cách thức kiểm soát cho các cấp dưới. Như vậy, mục tiêu chung của công ty về doanh số và lợi nhuận mới được phát huy hiệu quả qua từng thời kỳ.

3. Vai trò của hoạt động quản trị bán hàng

Ngày nay, quản trị bán hàng trở thành một yếu tố quan trọng tạo nên thành công cho các công ty bán hàng. Vai trò của hoạt động bán hàng được thể hiện qua một số vấn đề sau: 

Quản trị bán hàng giúp bộ phận bán hàng phối hợp hoạt động với các bộ phận khách như: marketing, sản xuất nhằm hoàn thành chiến lược tổng thể của cả công ty. 

Vai trò của hoạt động quản trị bán hàng
Vai trò của hoạt động quản trị bán hàng

Thông qua hoạt động quản trị bán hàng giúp công ty xây dựng các mục tiêu và các chiến lược bán hàng hiệu quả.

Quản trị bán hàng giúp công ty vận hành và kiểm soát hệ thống bán hàng của mình một cách hiệu quả, hướng nguồn lực vào việc hoàn thành mục tiêu đề ra. 

Quản trị bán hàng là một trong những biện pháp hữu hiệu khuyến khích nhân viên sáng tạo và năng động trong bán hàng thông qua các biện pháp kiểm tra, giám sát và khen thưởng. 

Ngoài ra, quản trị bán hàng còn góp phần xây dựng một lực lượng bán hàng hiệu quả, xây dựng mối quan hệ với khách hàng thông qua việc chăm sóc khách hàng và hoạt động hiệu quả của kênh phân phối.

4. Một số kỹ năng quản trị bán hàng hiệu quả

Để nâng cao hiệu quả quản trị bán hàng thì bên cạnh chiến lược tổng thể công ty, phân tích môi trường thì cần phải có những kỹ năng trong việc quản trị bán hàng một cách hiệu quả. Một số kỹ năng cần thiết góp phần nâng cao hiệu quả quản trị bán hàng là: 

Kỹ năng hoạch định 

Hoạch định là một kỹ năng quan trọng trong hoạt động quản trị bán hàng. Hoạch định giúp cho nhà quản trị vạch ra những kế hoạch và chương trình hành động cũng như biết được thời điểm bắt đầu, thời điểm kết thúc một cách hiệu quả. Bên cạnh đó hoạch định còn giúp cho nhà quản trị xây dựng các chiến lược hành động cũng như nắm bắt được toàn bộ quy trình nhằm thực hiện mục tiêu bán hàng đề ra. 

Kỹ năng quản lý địa bàn 

Trong kinh doanh mà đặc biệt là trong khâu tổ chức bán hàng thì việc xác định địa bàn và quản lý địa bàn là nhiệm vụ quan trọng ảnh hưởng tới doanh số bán hàng cũng như việc khai thác tối đa tiềm năng của mỗi khu vực. Hoạt động quản trị bán hàng bao hàm trong đó là quản trị từng khu vực địa bàn. Mỗi khu vực địa bàn bao gồm: khách hàng là nguồn tạo ra doanh số và đối thủ là người cạnh tranh với công ty. Việc quản lý địa bán hiệu quả sẽ góp phần quan trọng trong việc quản lý khách hàng tức là quản lý nguồn doanh thu của công ty đồng thời giám sát những đối thủ nhằm có những chính sách đề phòng và ứng phó kịp thời trước sự cạnh tranh đến từ đối thủ.

Kỹ năng lãnh đạo và động viên 

Bên cạnh kỹ năng quản trị thì kỹ năng lãnh đạo cũng góp phần quan trọng trong việc quản lý hiệu quả tổ chức bán hàng. Nếu như các kỹ năng quản trị thiên về các nguyên tắc, hành động, kết quả và thực hiện theo những kế hoạch đề ra còn lãnh đạo là quan hệ với con người và thích ứng với sự thay đổi. Hai kỹ năng này không xung khắc mà nó hỗ trợ bổ sung cho nhau giúp vận hành một tổ chức bán hàng hoạt động một cách hiệu quả vừa theo quy trình vừa thay đổi để thích ứng.

Để tham khảo toàn bộ luận văn ngành quản trị bán hàng, bạn có thể dowload TẠI ĐÂY

Từ khóa liên quan: Ngành quản trị bán hàng là gì

Cơ sở lý luận luận văn quản trị nhân lực

Hoạt động quản trị nguồn nhân sự liên quan tới tất cả các vấn đề về quyền lợi, nghĩa vụ và trách nhiệm của nhân viên nhằm đạt được hiệu quả cao cho các tổ chức và nhân viên. Luận Văn Việt chuyên giá viết luận văn thạc sĩ xin chia sẻ bài viết: “Cơ sở lý luận luận văn quản trị nhân lực”

Cơ sở lý luận luận văn quản trị nhân lực
Cơ sở lý luận luận văn quản trị nhân lực

1. Ngành quản trị nhân lực là gì?

Quản trị nhân lực được hiểu là một trong các chức năng cơ bản của quá trình quản trị, giải quyết tất cả các vấn đề liên quan tới con người gắn với công việc của họ trong bất cứ tổ chức nào. 

Quản trị nhân lực là một hoạt động vừa mang tính khoa học vừa mang tính nghệ thuật. Vì quản trị nhân lực là một lĩnh vực gắn bó nhiều đến văn hóa tổ chức và chứa đựng nhiều giá trị nhân văn hơn bất cứ một lĩnh vực quản trị nào khác. 

Quản trị nguồn nhân lực là hệ thống các triết lý, chính sách và hoạt động chức năng về thu hút, đào tạo – phát triển và duy trì con người của một tổ chức nhằm đạt được kết quả tối ưu cho cả tổ chức lẫn nhân viên. 

Để quản trị có hiệu quả nhà quản trị cần biết cách làm việc và hòa hợp với người khác, biết cách lôi kéo người khác làm theo mình. 

Quản trị nguồn nhân lực giúp doanh nghiệp khai thác các khả năng tiềm tàng, nâng cao năng suất lao động và lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp về nguồn nhân lực. Nó thể hiện rất nhân bản về quyền lợi của người lao động, đề cao vị thế và giá trị của người lao động, chú trọng giải quyết hài hòa mối quan hệ lợi ích giữa tổ chức, doanh nghiệp và người lao động, góp phần làm giảm bớt tư bản – lao động trong các doanh nghiệp.

Cơ sở lý luận luận văn quản trị nhân lực
Cơ sở lý luận luận văn quản trị nhân lực

2. Chức năng cơ bản của quản trị nhân lực

Hoạt động quản trị nguồn nhân sự liên quan tới tất cả các vấn đề về quyền lợi, nghĩa vụ và trách nhiệm của nhân viên nhằm đạt được hiệu quả cao cho các tổ chức và nhân viên. Trên cơ sở đó hoạt động chủ yếu của quản trị nhân sự có thể chia làm 3 nhóm chức năng: 

– Nhóm chức năng thu hút nguồn nhân sự: 

Nhóm chức năng này chú trọng vấn đề đảm bảo có đủ số nhân viên với các phẩm chất phù hợp cho công việc của doanh nghiệp. để có thể tuyển đúng người cho đúng việc, trước hết doanh nghiệp phải căn cứ vào kế hoạch sản xuất, kinh doanh và thực trạng sử dụng nhân viên trong doanh nghiệp nhằm xác định được những công việc nào cần tuyển thêm người.

– Nhóm chức năng đào tạo – phát triển: 

Nhóm chức năng này chú trọng đến việc nâng cao năng lực của nhân viên, đảm bảo cho nhân viên trong doanh nghiệp có các kỹ năng, trình độ lành nghề cần thiết để hoàn thành tốt công việc được giao và tạo điều kiện cho nhân viên được phát triển tối đa các năng lực cá nhân.

Các doanh nghiệp áp dụng chương trình hướng nghiệp và đào tạo cho nhân viên mới nhằm xác định năng lực thực tế của nhân viên và giúp nhân viên làm quen với công việc của doanh nghiệp. 

– Nhóm chức năng duy trì nguồn nhân sự: 

Nhóm chức năng này chú trọng đến việc duy trì và sử dụng có hiệu quả nguồn nhân sự trong doanh nghiệp. Bao gồm:

Chức năng kích thích, động viên liên quan đến các chính sách và các hoạt động nhằm khuyến khích, động viên nhân viên trong doanh nghiệp làm việc hăng say, tận tình, có ý thức trách nhiệm và hoàn thành công việc với chất lượng cao. 

Chức năng quan hệ lao động liên quan đến các hoạt động nhằm hoàn thiện môi trường làm việc và các mối quan hệ trong công việc như: ký kết hợp đồng lao động, giải quyết khiếu tố, tranh chấp lao động, giao tế nhân viên, cải thiện môi trường làm việc, y tế, bảo hiểm và an toàn lao động. Giải quyết tốt chức năng quan hệ lao động sẽ giúp các doanh nghiệp tạo ra bầu không khí tâm lý tập thể và các giá trị truyền thống tốt đẹp, vừa làm cho nhân viên thỏa mãn với công việc và doanh nghiệp.

3. Tầm quan trọng của quản trị nhân lực

Các nhà lãnh đạo đều biết rằng vấn đề mấu chốt để làm nên giá trị của một tổ chức chính là yếu tố con người. Nhất là trong các giai đoạn kinh tế gặp thử thách, nhu cầu cấp thiết của các tổ chức là phải tìm ra những khó khăn, vướng mắc và giải quyết các vấn đề về hiệu quả và năng suất nhân sự. Để làm được điều đó, nhiều tổ chức đang cố gắng thực hiện việc quản lý thay đổi và nâng cao hiệu năng nguồn nhân sự.

Trong doanh nghiệp quản trị nhân sự thuộc chức năng chính của nhà quản trị, giúp nhà quản trị đạt được mục đích thông qua nỗ lực của người khác. Các nhà quản trị có vai trò đề ra các chính sách, đường lối chủ trương có tính chất định hướng cho sự phát triển của doanh nghiệp. Do đó nhà quản trị phải là người biết nhìn xa trông rộng, có trình độ chuyên môn cao. Người thực hiện các đường lối chính sách mà nhà quản trị đề ra là các nhân viên thừa hành, kết quả công việc hoàn thành tốt hay không phụ thuộc rất nhiều vào năng lực của nhân viên, vì vậy cho nên có thể nói rằng: “ Mọi quản trị suy cho cùng cũng là quản trị con người.”

Quản trị nhân sự góp phần vào việc giải quyết các mặt kinh tế xã hội của vấn đề lao động. Đó là một vấn đề chung của xã hội, mọi hoạt động kinh tế nói chung điều đi đến mục đích sớm hay muộn là làm sao cho người lao động hưởng thành quả do họ làm ra.

Quản trị nhân sự gắn liền với mọi cơ quan tổ chức, bất kỳ một cơ quan tổ chức nào cũng cần phải có bộ phận nhân sự. Quản trị nhân sự là một thành tố quan trọng của chức năng quản trị, nó trãi rộng ở khắp nơi trong mọi tổ chức. Quản trị nhân sự hiện diện ở khắp các phòng ban, bất cứ cấp quản trị nào cũng có nhân viên dưới quyền vì thế đều phải có quản trị nhân sự. cung cách quản trị nhân sự tạo ra bầu không khí văn hóa cho một doanh nghiệp. Đây cũng là một trong những yếu tố quyết đến sự thành bại của một doanh nghiệp.

Quản trị nhân sự có vai trò to lớn đối với hoạt động kinh doanh của một doanh nghiệp, nó là hoạt động bề sâu bên trong doanh nghiệp nhưng lại quyết định kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.

Bạn đang cần làm luận văn quản trị nguồn nhân lực, luận văn thạc sĩ quản trị nhân lực và cần tài liệu tham khảo, xem ngay tài liệu TẠI ĐÂY

Từ khóa liên quan: ngành quản trị nhân sự là gì, luận văn quản trị nhân lực trong doanh nghiệp, luận văn thạc sĩ quản trị nhân sự, luận văn về quản trị nhân sự

Ý tưởng đề tài luận văn quản trị kinh doanh

Bạn đang bận rộn với cả mớ “bòng bong” những việc không tên, và đang phân vân không biết nên làm đề tài luận văn quản trị kinh doanh nào? Cùng xem bài viết dưới đây mà Luận Văn Việt chuyên giá viết luận văn thạc sĩ chia sẻ để có một vài “idea” lý tưởng nhé.

Ý tưởng đề tài luận văn quản trị kinh doanh
Ý tưởng đề tài luận văn quản trị kinh doanh
  1. Ảnh hưởng của truyền miệng đến hành vi thay đổi thương hiệu mỹ phẩm của phụ nữ tại thành phố Nha Trang
  2. Các yếu tố ảnh hưởng đến ý định về việc sử dụng thương mại di động
  3. Các nhân tố ảnh hưởng tới quyết định mua xe ôtô hiệu Kia K3 tại Thành phố Hồ Chí Minh
  4. Ảnh hưởng của quản trị công ty lên hiệu quả doanh nghiệp
  5. Chất lượng mối quan hệ và lòng trung thành của khách hàng: Một nghiên cứu về công ty Cocacola tại TP. HCM
  6. Ảnh hưởng của chất lượng mối quan hệ đến ý định mua lặp lại trực tuyến của khách hàng tại TP. HCM
  7. Tác động của truyền thống xã hội đến ý định mua của người tiêu dùng tại TP. HCM
  8. Đo lường chất lượng dịch vụ bảo hành và sự hài lòng của khách hàng sử dụng sản phẩm của công ty phần mềm Anh Quân
  9. Các nhân tố gây ra xung đột có hai tại bộ phận tín dụng vay tiêu dùng cá nhân trong ngân hàng
  10. Năng lực quản lý trí thức và lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tại TP. HCM
  11. Tái cấu trúc công việc ảnh hưởng đến sự gắn kết công việc và kết quả công việc cá nhân của nhân viên các ngân hàng thương mại Việt Nam tại TP. HCM
  12. Xây dựng chiến lược kinh doanh cho công ty cổ phần Intimex Bình Dương giai đoạn năm 2017 – 2021
  13. Trí tuệ cảm xúc tác động đến hiệu quả làm việc cá nhân thông qua sự hài lòng công việc tại công ty TNHH được phatn và thiết bị y tế Hoàng Đức
  14. Một số biện pháp nhằm xây dựng chiến lược kinh doanh của Công ty Xuất nhập khẩu Thuỷ sản Miền Trung
  15. Những giải pháp chủ yếu nhằm hoàn thiện phương pháp điều chỉnh giá trong hoạt động Marketing của các doanh nghiệp.
  16. Một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế trong các doanh nghiệp Du lịch Nhà nước ở Thừa Thiên Huế.
  17. Những giải pháp nhằm thu hút khách du lịch của các doanh nghiệp du lịch trên địa bàn Thừa Thiên Huế.
  18. Một số giải pháp nhằm huy động nguồn vốn trung và dài hạn cho các dự án đầu tư ở các doanh nghiệp công nghiệp vừa và nhỏ thành phố Đà Nẵng.
  19. Một số giải pháp về Marketing nhằm đẩy mạnh hoạt động kinh doanh của các DNNN sản xuất hàng tiêu dùng trên địa bàn thành phố Đà Nẵng.
  20. Những định hướng và giải pháp nhằm tăng khả năng xuất khẩu các doanh nghiệp công nghiệp ở khu vực Quảng Nam, Đà Nẵng.
  21. Phương hướng và biện pháp cơ bản để xây dựng chiến lược kinh doanh của Công ty Điện máy miền Trung đến năm 2005.
  22. Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh của các khách sạn Nhà nước trên địa bàn thành phố Đà Nẵng.
  23. Những giải pháp cơ bản nhằm phát triển kinh doanh nhựa đường ở Tổng Công ty Xăng dầu Việt Nam.
  24. Một vài ý kiến nhằm hoàn thiện chiến lược Marketing của Công ty nước giải khát quốc tế IBC tại thị trường Việt Nam.
  25. Một số biện pháp nhằm xây dựng chiến lược cạnh tranh cho các DNNN kinh doanh sản phẩm dầu mỡ nhờn ở VN hiện nay (lấy ví dụ ở Công ty dầu nhờn Petrolimex).
  26. Chiến lược phát triển loại hình và sản phẩm du lịch tại vùng Đà Nẵng và Quảng Nam trong những năm tới.
  27. Xây dựng chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp Thương mại Nhà nước trên địa bàn thành phố Đà Nẵng.
  28. Một số biện pháp cơ bản góp phần nâng cao hiệu quả kinh doanh lương thực ở các doanh nghiệp Nhà nước trên địa bàn Quảng Nam, Đà Nẵng.
  29. Các giải pháp nhằm phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ trên địa bàn thành phố Đà Nẵng.[53]Những giải pháp cơ bản nhằm phát triển hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp khách sạn ở thành phố Đà Nẵng.
  30. Tăng cường công tác tín dụng đối với các Doanh nghiệp Việt Nam trên địa bàn Lâm Đồng.
  31. Những giải pháp đẩy mạnh công tác quản trị nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh của Ngân hàng Đầu tư và phát triển Vĩnh Phúc.
  32. Giải pháp phát triển hoạt động kinh doanh của công ty TNHH chứng khoán Ngân hàng Công thương Việt Nam.
  33. Nâng cao chất lượng quản trị nguồn nhân lực tại công ty Truyền tải điện lực I.
  34. Sự hài lòng của người vay vốn tại Quỹ trợ vốn xã viên hợp tác xã Thành phố Hồ Chí Minh
  35. Giá trị mối quan hệ giữa nhà cung cấp và nhà phân phối trong ngành sơn công nghiệp tại TP. HCM

Chuẩn bị một Slide luận văn thạc sĩ quản trị kinh doanh hay luận văn quản trị kinh doanh cũng là một trong những yếu tố vô cùng quan trọng góp phần vào kết quả của bài luận văn. 

Luận Văn Việt sẽ chia sẻ một vài mẹo nhỏ dưới đây cho bạn:

Màu và kích cỡ cho Font chữ

Chọn phông chữ nên là một trong các font sau: Arial, Vni-Helve, Vni-Times. Nên chọn màu trắng, vàng, xanh lá cây, cam. Kích cỡ nên trong giới hạn từ 20-44 pt. Không nên chọn kích cỡ dưới 20 pt vì chữ sẽ nhỏ khi nhìn từ xa (trừ khi trình bày bảng số liệu thì có thể chọn cỡ thấp nhất là 20 pt).

Bổ sung hiệu ứng đặc biệt

Việc tạo hiệu ứng cho slideshow sẽ làm tăng tính hấp dẫn lôi cuốn người xem. Tuy nhiên cần chú ý tới tính hợp lý cho từng mục đích của buổi thuyết trình. Đối với các buổi trình chiếu quảng cáo sản phẩm hay tiếp thị nên sử dụng nhiều hiệu ứng mạnh gây ấn tượng. Còn với buổi trình luận văn tốt nghiệp thời gian thường không dài, vì vậy nếu bạn tạo nhiều hiệu ứng thì sẽ làm mất thời gian vô ích. Do vậy chỉ nên sử dụng 2 đến 3 hiệu ứng, bao gồm 1 hiệu ứng chuyển trang và 2 hiệu ứng cho chữ.

Hãy làm Slide ngắn gọn thôi

Đơn giản hoá và giới hạn số lượng từ trong mỗi một slide. Khi làm slide, hãy nhớ tới công thức 6×6 (nghĩa là 6 chữ trong 1 hàng, 6 hàng trong 1 slide). Hãy sử dụng các cụm từ chính và chỉ đưa vào những thông tin quan trọng.

Bên cạnh đó:

– Hãy giới hạn dấu câu và tránh viết hoa toàn bộ chữ. Để khoảng trống trên slide sẽ giúp khán giả dễ đọc hơn.

– Sử dụng sự tương phản màu sắc giữa chữ và nền. Chữ tối màu và nền sáng màu là tốt nhất. Hình nền quá rắc rối sẽ khiến chữ khó đọc.

Luận Văn Việt hy vọng rằng với những chia sẻ ngắn gọn trên đây sẽ giúp ích được nhiều cho bạn trong quá trình hoàn thành bài luận văn cho mình.

Chúc bạn may mắn!