luận văn quản trị sản xuất

Bạn đang chuẩn bị luận văn quản trị sản xuất mà chưa có kinh nghiệm? Hãy tham khảo ngay cách làm phần cơ sở lý thuyết dưới đây mà Luận Văn Việt chuyên viết thuê luận văn, làm tiểu luận thuê chia sẻ. Với tài liệu tham khảo này, bạn hoàn toàn có thể tự xây dựng một đề cương hoàn chỉnh cho bài luận văn của mình một cách dễ dàng.

luận văn quản trị sản xuất
luận văn quản trị sản xuất

1. Khái quát về doanh nghiệp và quản lý sản xuất 

1.1. Khái niệm doanh nghiệp 

Trong nền kinh tế, mô hình tổ chức cơ bản để hoạt động sản xuất, kinh doanh tiến hành thuận lợi là doanh nghiệp. Con người có thể độc lập tổ chức, sản xuất kinh doanh dưới nhiều hình thức khác nhau, từ đơn giản đến phức tạp. Một cá thể có thể sản xuất kinh doanh, một tổ sản xuất với số lượng ít người cũng có thể sản xuất tốt. Tuy nhiên cùng với quá trình phân công lao động trong xã hội, cùng với việc xã hội hoá cao và trình độ tiến bộ của lực lượng sản xuất, nhiều mô hình tổ chức sản xuất ra đời. Cách thức liên kết từng cá thể trong lao động sản xuất tạo ra hình thức tổ chức để sản xuất. Lúc đầu là một hộ gia đình, tổ hợp tác, hợp tác xã, doanh nghiệp, liên hiệp doanh nghiệp, Công ty, tổng Công ty, tập đoàn kinh tế… 

Doanh nghiệp là một tổ chức bằng nguồn lực, các phương tiện vật chất và tài chính của mình có thể thỏa mãn những nhu cầu của khách hàng ( người tiêu dùng) bằng cách cung cấp các sản phẩm ( ô tô, quần áo,…) và các dịch vụ ( du lịch, vận tải…). 

Mỗi doanh nghiệp không phải là một đơn vị độc lập trong môi trường. Trong môi trường sống, các doanh nghiệp thực hiện quá trình trao đổi vật chất và thông tin. Họ mua yếu tố sản xuất từ phía các nhà cung cấp, bán sản phẩm của mình cho khách hàng. Trong mối quan hệ với môi trường sống, chúng ta phân biệt ba loại dòng sau đây :

Dòng vật chất : Nguyên, vật liệu, năng lượng, nhiên liệu, các loại dụng cụ và trang thiết bị công nghệ ; các đơn vị lắp ráp được mua từ bên ngoài, các bán thành phẩm, thành phẩm của quá trình sản xuất bán ra ngoài thị trường. 

Dòng thông tin : Quảng cáo, chiêu hàng, các đơn đặt hàng, hóa đơn, chứng từ và mọi sự trao đổi với môi trường kinh tế, xã hội, luật pháp, khoa học và kỹ thuật.

– Dòng tài chính : Sự thay đổi vốn chủ sở hữu của công ty, các khoản vay ngân hàng, trả tiền của khách, trả người cung cấp, nộp thuế, trả lương, lãi vay, phân chia lợi nhuận, các khoản phạt,… 

Các dòng trên không chỉ là sự trao đổi tương tác giữa doanh nghiệp với môi trường mà còn tồn tại ngay trong lòng doanh nghiệp, trong các xưởng sản xuất, các phòng ban quản lý chức năng

Quản lý sản xuất doanh nghiệp bắt đầu ngay từ khi doanh nghiệp đó xuất hiện. 

Nói cách khác, quản lý sản xuất có cùng tuổi đời với doanh nghiệp.

Như vậy, mỗi một doanh là một đơn vị kinh tế thực hiện các hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm cung cấp các sản phẩm / dịch vụ thỏa mãn nhu cầu thị trường và thu được lợi nhuận. Doanh nghiệp là 1 hệ thống mở với môi trường bên ngoài và doanh nghiệp cũng lại được cấu thành bởi nhiều bộ phận với những chức năng riêng biệt.

Muốn đạt được các mục tiêu của mình đòi hỏi các doanh nghiệp phải tổ chức tốt các bộ phận cấu thành như sản xuất, marketing, tài chính, nhân lực. Theo tiếp cận thế chân kiềng của doanh nghiệp thì sản xuất cùng với marketing và tài chính được xác định là 3 trục cơ bản.

 

1.2. Các hoạt động chủ yếu của doanh nghiệp

Như trên đã đề cập, dưới góc nhìn của quản trị tác nghiệp thì ba trục cơ bản của doanh nghiệp là sản xuất, marketing và tài chính : 

– Hoạt động sản xuất là một bộ phận chính có vai trò quyết định trong việc tạo ra sản phẩm/ dịch vụ cho doanh nghiệp. Quản trị hệ thống sản xuất là chức năng , nhiệm vụ cơ bản của mọi doanh nghiệp. Thiết lập, phát triển và tổ chức điều hành tốt hoạt động sản xuất là cơ sở và yêu cầu bảo đảm cho mỗi doanh nghiệp có thể đứng vững và phát triển trong nền kinh tế thị trường cạnh tranh ngày càng khốc liệt. 

– Hoạt động marketing : Marketing là quá trình xúc tiến với thị trường nhằm thỏa mãn nhu cầu và mong muốn của con người, hoạt động marketing là một dạng hoạt động của con người ( bao gồm tổ cả tổ chức doanh nghiệp) nhằm thỏa mãn nhu cầu và mong muốn thông qua quá trình trao đổi.

– Hoạt động tài chính : là hoạt động huy động vốn để bảo đảm cho các khoản của doanh nghiệp được thực hiện. Mặc dù không thường xuyên và không trực tiếp tạo ra giá trị cho doanh nghiệp những hoạt động tài trợ cũng có vai trò rất quan trọng đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp do có tính quyết định trong việc bảo đảm tính khả thi của các khoản đầu tư và tạo ra đòn bẩy tài chính nếu xem xét dưới góc độ chủ sở hữu doanh nghiệp.

 

Trong những phân hệ trên , hoạt động sản xuất được coi là khâu quyết định tạo ra sản phẩm / dịch vụ và giá trị gia tăng cho doanh nghiệp , góp phần tăng trưởng kinh tế tạo ra cơ sở vật chất thúc đẩy xã hội phát triển. Quá trình sản xuất được quản trị tốt góp phần tiết kiệm các nguồn lực cần thiết trong sản xuất, hạ giá thành, tăng năng suất lao động, nâng cao chất lượng sản phẩm/ dịch vụ và suy đến cùng là nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp.

Khẳng định vai trò quan trọng quyết định sản xuất trong việc tạo ra và cung cấp sản phẩm/ dịch vụ cho xã hội không có nghĩa là xem xét nó một cách biệt lập với các chức năng quản trị khác trong doanh nghiệp. Sự thống nhất, phối hợp cùng phát triển dựa trên cơ sở chung là thực hiện mục tiêu tổng quát của doanh nghiệp. Các phân hệ trong doanh nghiệp được hình thành và tổ chức các hoạt động sao cho vừa thực hiện tốt mục tiêu trực tiếp của mình vừa phải thực hiện tốt nhất mục tiêu tổng quát của hệ thống đặt ra.

1.3. Mục tiêu của quản lý sản xuất

Các doanh nghiệp tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm mục tiêu sinh lời ( ngoại trừ các doanh nghiệp công ích không vì lợi nhuận). Lợi nhuận tối đa là mục tiêu chung nhất và là mục tiêu cuối cùng của mọi doanh nghiệp khi đầu tư vật lực và tài lực vào các hoạt động kinh doanh trên thị trường. Quản trị sản xuất tác nghiệp có mục tiêu tổng quát là bảo đảm cung cấp đầu ra cho doanh nghiệp trên cơ sở khai thác có hiệu quả nhất các nguồn lực của doanh nghiệp đồng thời thỏa mãn tốt nhất nhu cầu của khách hàng. Để đạt được mục tiêu chung nhất này, quản trị sản xuất, tác nghiệp có những mục tiêu cụ thể sau:

– Bảo đảm chất lượng sản phẩm/ dịch vụ theo yêu cầu của khách hàng trên cơ sở khả năng của doanh nghiệp.

– Bảo đảm đúng dung lượng mong muốn của thị trường. 

– Giảm chi phí sản xuất tới mức thấp nhất có thể khi tạo ra một đơn vị đầu ra. 

– Rút ngắn thời gian sản xuất sản phẩm hoặc cung cấp dịch vụ. 

– Đảm bảo cung ứng đúng thời điểm, đúng địa điểm, đúng số lượng và đúng khách hàng.

– Xây dựng hệ thống sản xuất năng động, linh hoạt. 

– Đảm bảo mối quan hệ qua lại tốt với khách hàng và nhà cung ứng. 

– Xây dựng hệ thống và các phương pháp quản trị gọn nhẹ và không có lỗi với khách hàng.

Hệ thống mục tiêu cụ thể trên cần gắn bó chặt chẽ với nhau, tạo ra sức mạnh tổng hợp, góp phần nâng cao khả năng cạnh tranh cho doanh nghiệp trên thị trường.

1.4. Quản lý các dòng trong sản xuất 

Dòng thông tin 

Quản lý sản xuất cần quản lý toàn bộ quá trình cung cấp sản phẩm từ nghiên cứu, thiết kế, chuẩn bị sản xuất, sản xuất đến kiểm tra, theo dõi,… Thông tin cần phải tin cậy, chính xác , và chọn lựa sao cho chúng mang đến một ý nghĩa đúng đắn đối với những bộ phận sản xuất và những người có liên quan.

 

Dòng vật chất 

– Cung cấp nguyên liệu và tiêu thụ sản phẩm. 

– Tuân thủ các cam kết ( đúng thời gian, chất lượng, số lượng và chủng loại) 

– Giảm chu kỳ sản xuất sản phẩm bằng cách tác động tới mọi giai đoạn của quá trình sản xuất ( dự trữ , tiếp nhận, sản xuất, lắp ráp, kiểm tra, tiêu thụ…). 

– Giảm tất cả các loại dự trữ ( nguyên, vật liệu, chế phẩm và sản phẩm cuối cùng) 

1.5. Kế hoạch quá trình sản xuất

Thực tế luôn luôn có sự khai thác giữa dự báo và thị trường, nơi mà một doanh nghiệp muốn thâm nhập. Kế hoạch được xây dựng trên cơ sở năng lực sản xuất tính đến thời gian chờ đợi, thời gian máy hỏng,… và khả năng tiêu thụ sản phẩm. Vì vậy, chỉ bằng cách dự báo chính xác nhu cầu sản phẩm, trên cơ sở phân tích sự tồn kho, tính toán chính xác năng lực sản xuất thì kế hoạch mới được xây dựng chính xác, quản lý sản xuất mới trở thành một nhân tố quan trọng đảm bảo sự thành công trong kinh doanh, thỏa mãn yêu cầu của quản lý sản xuất. Đó là: 

– Sản xuất sản phẩm chất lượng cao 

– Duy trì có hiệu quả toàn bộ sự hoạt động của hệ thống sản xuất nhằm cực tiểu các hỏng hóc và chi phí sản xuất 

– Quản lý tốt các nguồn lực ( đào tạo, khuyến khích, giải thích,…).

– Quyết định đầu tư phù hợp. 

– Các thiết bị được lắp đặt phù hợp với dòng di chuyển vật chất.

 

 1.6. Năng suất trong quá trình sản xuất 

Thực chất và tầm quan trọng của năng suất trong sản xuất và dịch vụ 

Quản trị sản xuất gắn liền với việc nâng cao năng suất và đánh giá năng suất đạt được của từng khâu, từng bộ phận cũng như của toàn bộ dây chuyền sản xuất của doanh nghiệp. Năng suất là tiêu chuẩn phản ánh tổng hợp nhất hiệu quả của hoạt động quản trị sản xuất và tác nghiệp. Năng suất trở thành nhân tố quan trọng nhất đánh giá khả năng cạnh tranh của hệ thống sản xuất trong mỗi doanh nghiệp, đồng thời cũng thể hiện trình độ phát triển của các doanh nghiệp, các quốc gia. Về mặt toán học, năng suất là tỷ số giữa đầu ra và những yếu tố đầu vào được sử dụng để tạo ra đầu ra đó. Đầu ra có thể là tổng giá trị sản xuất hoặc giá trị gia tăng, hoặc khối lượng hàng hoá tính bằng đơn vị hiện vật. Đầu vào được tính theo các yếu tố tham gia để sản xuất ra đầu ra, đó là lao động, nguyên vật liệu, thiết bị máy móc,…. Việc chọn đầu vào và đầu ra khác nhau sẽ tạo ra các mô hình đánh giá năng suất khác nhau. Có thể biểu diễn công thức tính năng suất chung cho tất cả các yếu tố như sau:

 

Ảnh 1 – Công thức tính năng suất

Như vậy, năng suất được đánh giá chung cho tất cả các yếu tố và cho từng yếu tố đầu vào. Nó được lượng hoá thông qua những con số cụ thể, phản ánh mức hiệu quả của việc khai thác sử dụng các yếu tố đầu vào. Tuy nhiên ngoài những yếu tố có thể lượng hoá được năng suất cần được đánh giá đầy đủ về mặt định tính như tính hữu ích của đầu ra, mức độ thoả mãn người tiêu dùng, mức độ đảm bảo những yêu cầu về xã hội gồm bảo vệ môi trường, sử dụng tiết kiệm nguồn tài nguyên, ít gây ô nhiễm,… Khái niệm năng suất phản ánh tính lợi nhuận, tính hiệu quả, sự đổi mới và chất lượng hoạt động của doanh nghiệp. Chỉ tiêu năng suất cho doanh nghiệp biết được trình độ và chất lượng của hoạt động quản trị sản xuất, đồng thời là cơ sở để xem xét việc trả công cho người lao động sau mỗi quá trình sản xuất. Vì vậy, việc tính toán năng suất có ý nghĩa rất quan trọng trong quản trị sản xuất của các doanh nghiệp.

 

Những nhân tố tác động đến năng suất 

Các nhân tố ảnh hưởng đến năng suất chia thành hai nhóm chủ yếu: 

– Nhóm nhân tố bên ngoài: bao gồm môi trường kinh tế thế giới, tình hình thị trường, cơ chế chính sách kinh tế của nhà nước.

– Nhóm nhân tố bên trong: bao gồm nguồn lao động, vốn, công nghệ, tình hình và khả năng tổ chức quản lý, tổ chức sản xuất. Có thể biểu diễn sự tác động của các nhân tố này theo sơ đồ sau:

Ảnh 2 – Các nhân tố ảnh hưởng đến năng suất

1.7. Quản trị năng lực sản xuất của doanh nghiệp

Quản trị năng lực sản xuất của doanh nghiệp nhằm xác định quy mô công suất dây chuyền sản xuất của doanh nghiệp. Hoạt động này có ảnh hưởng rất lớn đến khả năng phát triển của doanh nghiệp trong tương lai.

Xác định đúng năng lực sản xuất làm cho doanh nghiệp vừa có khả năng đáp ứng được những nhu cầu hiện tại, vừa có khả năng nắm bắt những cơ hội kinh doanh mới trên thị trường để phát triển sản xuất.

– Xác định năng lực sản xuất không hợp lý sẽ gây lãng phí rất lớn, tốn kém vốn đầu tư hoặc có thể cản trở quá trình sản xuất sau này.

 – Quy mô sản xuất phụ thuộc vào nhu cầu, đồng thời là nhân tố tác động trực tiếp đến loại hình sản xuất, cơ cấu tổ chức quản lý và sản xuất của các doanh nghiệp.

1.8.  Lãng phí trong sản xuất 

Lãng phí là “ tất cả những gì sử dụng nhiều hơn số lượng tối thiểu cần thiết về thiết bị, vật tư, phụ tùng, diện tích và thời gian lao động để thực sự tạo ra giá trị cho sản phẩm “             

( trích theo Shoichiro Toyoda- President, Toyota) 

Để phân tích được thực trạng về chi phí sản xuất của SHWS, chúng ta sẽ xem xét dựa trên mô hình 7 lãng phí (MUDA).

Ảnh 4  – Mô hình 7 lãng phí trong sản xuất

– Lãng phí do sản xuất thừa: Sản xuất nhiều hơn lượng khách hàng cần lúc đó, nguyên nhân có thể do việc sản xuất theo dự báo, sản xuất nhiều hơn để tránh thay thế, sản xuất nhiều hơn để tránh hỏng, hay do thời gian setup dài… Để không sản xuất thừa thì cần xem xét việc cân bằng quá trình, giảm thời gian setup….

– Lãng phí do vận chuyển: Việc vận chuyển sản phẩm không làm giá tăng giá trị, do đó việc vận chuyển dài, vận chuyển không cần thiết gây lãng phí. Ví dụ vận chuyển vật tư nhập, xuất kho, vận chuyển vật tư từ vị trí làm việc này đến vị trí làm việc khác. Nguyên nhân xuất hiện lãng phí này có thể do các nguyên nhân như vấn đề về kho bãi, việc layout bố trí theo chức năng, việc sản xuất theo lô

– Lãng phí do thao tác: Các thao tác con người không làm gia tăng giá trị, các thao tác gây lãng phí như việc tìm kiếm vật tư, dụng cụ,… việc sắp xếp lại vật tư, việc mang vác các hộp vật tư… Nguyên nhân là việc tổ chức khu làm việc không tốt, sắp xếp vật tư chưa cụ thể còn thiếu loại hay khu vực làm việc không an toàn… Để giảm các lãng phí này cần 5S, thiết kế lại khu vực làm việc:

o   Seiri: Phân loại những thứ cần thiết và những thứ không cần thiết để loại bỏ những thứ không cần thiết. 

o   Seiton: Sắp xếp những thứ cần thiết sao cho khi cần có thể dùng được ngay. 

o   Seiso: Vệ sinh sạch các loại rác, bẩn có ở xung quanh mình.

o   Seiketsu: Duy trì, quản lý tình trạng sạch sẽ có được sau khi đã thực hiện seiri, seiton

o   Shitsuke: Quy định ra các nội quy để duy trì tình trạng được yêu cầu…

– Lãng phí do chờ đợi: thời gian chờ đợi do vật tư, thông tin, con người, thiết bị không sẵn sàng. 

– Lãng phí do thừa quá trình: Dưới góc độ đánh giá của khách hàng thì các nỗ lực không tăng giá trị, các lãng phí này như: vệ sinh lặp đi lặp lại cho 1 chi tiết, các công việc giấy tờ, thiết kế vật tư hoặc dụng cụ vụng về… 

– Lãng phí do tồn kho: Vật tư, bán thành phẩm, sản phẩm được lưu giữ nhiều hơn số lượng cần cung cấp cho khách hàng. Tồn kho tạo sự không hiệu quả như chi phí thiết lập, thời gian chờ lớn, hàng đợi dài, chất lượng thất thường, cung cấp không tin cậy, dòng sản phẩm không đồng bộ, … Tồn kho che dấu các vấn đề như máy hư, chất lượng thấp, nguyên liệu tồi, công cụ mòn, công nhân vắng, phân phối trễ,… Các vấn đề này làm ngăn cản dòng sản phẩm, cần quan sát hiện trường, tìm nguyên nhân từ đó giải quyết các vấn đề. 

Tồn kho bán thành phẩm là bán phẩm trên các dây chuyền sản xuất, có thể chiếm đến 50% tổng đầu tư tồn kho. Đầu tư tồn kho bán thành phẩm là tích lũy chi phí trực tiếp và gián tiếp trong quá trình chế tạo từ nguyên liệu đến bán phẩm rồi thành phẩm. Tồn kho bán phẩm phụ thuộc vào:

o   Quá trình sản xuất. 

o   Phương pháp điều độ 

o   Phương pháp cấp liệu

Quá trình sản xuất bao gồm quá trình liên tục và quá trình gián đoạn. Quá trình liên tục có sản phẩm rời rạc hay lượng lớn, sản xuất lập lại hay theo quá trình, dòng vật tư theo cùng đường hay chiều có thể bỏ qua vài trạm, sản xuất nhập kho. Quá trình gián đoạn có sản phẩm nhiều chủng loại, dòng vật tư phức tạp, sản xuất theo đơn hàng. Tồn kho bán thành phẩm thường lớn ở quá trình sản xuất gián đoạn. 

– Lãng phí do lỗi hỏng: Các tổn thất liên quan đến sai lỗi, làm lại, thiếu sót…. 

Các lãng phí này bao gồm như: các phế thải, việc sửa chữa, nhầm chi tiết…. 

2. Khái quát về hệ thống sản xuất 

2.1. Khái niệm về hệ thống sản xuất

Quá trình sản xuất của các doanh nghiệp thường được tiến hành trong các xưởng sản xuất. Nếu sản phẩm có kết cấu phức tạp, quy trình công nghệ gia công phức tạp bao gồm nhiều nguyên công (operation) đòi hỏi sự tham gia của nhiều công nhân có nghề nghiệp khác nhau, sử dụng nhiều loại thiết bị , máy móc khác nhau thuộc nhiều ngành kỹ thuật khác nhau ( cơ khí, điện tử, hóa chất,…) thì trong phạm vi một xưởng sản xuất không thể đảm nhận thực hiện mọi nguyên công của một quá trình sản xuất sản phẩm được, đặc biệt đối với sản phẩm công nghiệp có kết cấu phức tạp như ô tô, tàu thủy, … Khi đó , người ta có xu hướng hình thành nhiều phân xưởng cùng tham gia vào quá trình sản xuất sản phẩm.

Các phân xưởng này có mối quan hệ chặt chẽ với nhau trong sản xuất: phân xưởng kéo sợi cung cấp sợi cho phân xưởng dệt trong hệ thống sản xuất của công ty dệt; phân xưởng gia công cơ khí cung cấp các chi tiết cho phân xưởng lắp ráp trong hệ thống sản xuất của công ty cơ khí,… Việc phân chia khu vực sản xuất của một công ty thành những bộ phận sản xuất đã tạo nên một hệ thống sản xuất cho doanh nghiệp đó.

Vậy: Hệ thống sản xuất là tập hợp các phân xưởng sản xuất chính , phân xưởng sản xuất phụ và các bộ phận phục vụ mang tính chất sản xuất cùng với những mối liên hệ giữa chúng trong quá trình sản xuất. 

Xuất phát từ khái niệm trên, một hệ thống sản xuất của một công ty bao gồm các thành phần chính sau đây:

2.2. Các phân xưởng sản xuất chính 

Phân xưởng sản xuất chính là những phân xưởng trực tiếp tham gia vào quá trình sản xuất ra các sản phẩm chính của doanh nghiệp. Sản phẩm chính là sản phẩm nằm trong danh mục kinh doanh của doanh nghiệp, được sản xuất và tiêu thụ trên thị trường nhằm mục tiêu lợi nhuận.

2.3. Các phân xưởng sản xuất phụ

Là những phân xưởng trực tiếp tham gia vào quá trình sản xuất ra các sản phẩm phụ của công ty. Sản phẩm được coi là phụ nếu chúng không nằm trong danh mục các sản phẩm kinh doanh của công ty, nhưng được sản xuất để tiêu dùng nội bộ, nhằm mục đích hỗ trợ cho sự hoạt động chung của doanh nghiệp.

2.4. Các bộ phận phục vụ có tính chất sản xuất 

Là những bộ phận mà hoạt động của nó có tính chất phục vụ, đảm bảo cho hoạt động sản xuất chính và sản xuất phụ được tiến hành bình thường như bộ phận kho hàng, bộ phận vận chuyển, bộ phận vệ sinh công nghiệp,… 

Trong một doanh nghiệp, ngoài các bộ phận phục vụ có tính chất sản xuất còn có các bộ phận phục vụ không có tính chất sản xuất như nhà ăn, câu lạc bộ, y tế, nhà trẻ , thư viện… 

Hệ thống sản xuất, bộ máy quản lý và các bộ phận phục vụ không có tính chất sản xuất tạo nên hệ thống chung của một doanh nghiệp.

2.5. Các dạng hệ thống sản xuất.

Phân biệt các dạng hệ thống sản xuất được tiến hành dựa trên cơ sở các phương pháp phân chia hệ thống sản xuất thành các phân xưởng sản xuất chính. Quá trình phân chia này được quyết định bởi một số nhân tố chính. Căn cứ vào nguyên tắc phân chia hệ thống sản xuất của một doanh nghiệp thành các phân xưởng sản xuất chính, ta phân biệt 2 loại hệ thống sản xuất sau đây:

 

Hệ thống sản xuất được hình thành theo nguyên tắc chuyên môn hóa công nghệ. 

Theo hình thức này, việc phân chia các xưởng sản xuất chính dựa vào hành trình công nghệ sản xuất sản phẩm hoặc các phương pháp công nghệ gia công, chế biến sản phẩm. Mỗi phân xưởng đảm nhận một giai đoạn công nghệ nhất định trong hành trình công nghệ sản xuất sản phẩm chính hoặc một phương pháp công nghệ nào đó.

Chuyên môn hóa công nghệ được áp dụng khi doanh nghiệp phải sản xuất nhiều loại sản phẩm có khối lượng sản xuất không lớn với quy trình công nghệ gia công khác nhau. Tổ chức hệ thống sản xuất dạng này có ưu điểm là có khả năng thích ứng cao với sự biến động về thị trường sản phẩm. Điều này thấy rất rõ trong hệ thống sản xuất của các trường đại học, trong các bệnh viện và trong các ngành sản xuất may mặc, cơ khí, điện dân dụng… hệ thống sản xuất và mặt bằng ít biến động khi sản phẩm thay đổi. Việc quản lý kỹ thuật chuyên môn đơn giản vì tính thống nhất về chuyên môn kỹ thuật trong một đơn vị sản xuất; có khả năng tập trung các chuyên gia để xử lý những vấn đề chuyên môn đặc biệt, và có khả năng tận dụng được năng lực sản xuất của thiết bị, máy móc.

Nhược điểm lớn nhất của hệ thống sản xuất dạng này là tổ chức phối hợp giữa các đơn vị sản xuất rất phức tạp, nhất là khi phải gia công nhiều loại sản phẩm làm cho chi phí vận chuyển nội bộ tăng lên , dự trữ vật tư bán thành phẩm trong sản xuất lớn , chu kỳ sản xuất kéo dài.

Hệ thống sản xuất được hình thành theo nguyên tắc chuyên môn hóa sản phẩm

Theo hình thức này, hệ thống sản xuất được phân chia thành các phân xưởng sản xuất chính theo sản phẩm được sản xuất. Mỗi phân xưởng đảm nhận gia công hoàn chỉnh một hoặc vài loại sản phẩm nào đó có khối lượng sản xuất lớn và ổn định trong một thời gian tương đối dài.

Hệ thống sản xuất chuyên môn hóa sản phẩm thường hình thành các dây chuyền sản xuất khép kín cho từng sản phẩm, tạo ra những đường di chuyển thẳng dòng của sản phẩm trong khi gia công, chế biến.

Tổ chức sản xuất trong dây chuyền sản xuất trở nên đơn giản hơn, chu kỳ sản xuất được rút ngắn, chuyên môn hóa lao động sâu nên trình độ tay nghề của người lao động thấp nhưng năng suất lao động cao, cho phép doanh nghiệp có thể tiết kiệm được chi phí tiền lương trực tiếp.

Do thiết bị cùng loại phân tán trong nhiều phân xưởng khác nhau nên quản lý kỹ thuật trở nên phức tạp và kém hiệu quả. Chi phí đầu tư để mua sắm và lắp đặt máy móc, thiết bị chuyên dùng cho từng loại sản phẩm, điều đó còn gây thiệt hại lớn khi ta thay đổi sản phẩm vì khả năng chuyển đổi thấp . Để khắc phục điều này, hiện nay người ta đã thiết kế và chế tạo các loại thiết bị điều chỉnh linh hoạt với chi phí điều chỉnh thấp khi thay đổi sản phẩm làm cho tính linh hoạt của hệ thống sản xuất được nâng lên.

2.6. Các nguyên tắc bố trí mặt bằng sản xuất 

Bố trí mặt bằng sản xuất là sự sắp xếp , bố trí các yếu tố của hệ thống sản xuất bao gồm các phân xưởng sản xuất chính, các phân xưởng sản xuất phụ và các bộ phận phục vụ có tính chất sản xuất trên một không gian diện tích nhất định đã được biến đổi thích hợp.

 

Việc lựa chọn mặt bằng sản xuất và bố trí mặt bằng do nhiều yếu tố quyết định như: 

– Nguồn nguyên vật liệu.

– Khả năng mở rộng sản xuất.

– Nguồn lao động và những vấn đề đời sống của người lao động.

– Môi trường sinh thái. 

– Hệ thống giao thông.

Hình thành hệ thống sản xuất và sắp xếp, bố trí mặt bằng sản xuất của một doanh nghiệp sẽ ảnh hưởng đến các chỉ tiêu sau: 

– Khả năng mở rộng và thu hẹp sản xuất trong tương lai. 

– Khả năng thích nghi với những thay đổi về sản phẩm và công nghệ sản xuất

– Tính chất linh hoạt của hệ thống sản xuất.

– Hiệu quả của vận chuyển nội 

– Khối lượng hàng tồn kho trong sản xuất

– Hiệu quả sử dụng diện tích sản xuất.

– Thuận tiện cho công tác quản lý.

– Khả năng sử dụng năng lực máy móc thiết bị….

Do đó , sắp xếp bố trí các phân xưởng sản xuất tại khu vực sản xuất đã được lựa chọn tuân thủ một số các nguyên tắc sau:

Tuân thủ hành trình công nghệ gia công, chế biến sản phẩm:

Theo nguyên tắc này, thứ tự các phân xưởng được sắp xếp theo trình tự của quy trình công nghệ sản xuất sản phẩm; sản phẩm trải qua phân xưởng nào trước thì phân xưởng đó được bố trí gần kho nguyên vật liệu; phân xưởng cuối cùng mà sản phẩm trải qua sẽ nằm gần kho thành phẩm; 2 phân xưởng có quan hệ trực tiếp trao đổi sản phẩm cho nhau sẽ được bố trí cạnh nhau.

Giữa các phân xưởng sản xuất chính có thể bố trí các kho bán thành phẩm nội bộ và bộ phận phục vụ cho phân xưởng nào thì bố trí gần phân xưởng đó. 

Tuân thủ nguyên tắc này sẽ tạo ra một đường đi thẳng dòng của sản phẩm , nhờ đó có thể tiết kiệm chi phí vận chuyển nội bộ, dễ sắp xếp, bố trí các phương tiện vận chuyển, đặc biệt đối với các sản phẩm lớn như ô tô, xe máy vận chuyển bằng cầu trục hoặc các xe chạy trên đường ray….

Đảm bảo khả năng mở rộng sản xuất.

Quy luật phát triển thường dẫn đến tăng sản lượng sản xuất hoặc đa dạng hóa sản phẩm bằng cách đưa vào sản xuất thêm các loại sản phẩm khác, điều đó đòi hỏi các công ty sau một thời gian hoạt động thường có nhu cầu mở rộng mặt bằng sản xuất. Vì vậy, ngay từ khi chọn địa điểm và bố trí mặt bằng sản xuất người ta phải dự kiến khả năng mở rộng trong tương lai. Khả năng mở rộng sản xuất là: Mở rộng theo chiều dọc, mở rộng theo chiều ngang, ở rộng theo chiều cao (chiều sâu). Mỗi khả năng mở rộng chỉ thích ứng với những đặc điểm nhất định về sản phẩm và công nghệ sản xuất, đặc biệt là máy móc thiết bị.

Nguyên tắc đảm bảo an toàn cho sản xuất và người lao động

Quán triệt nguyên tắc này, khi bố trí mặt bằng đòi hỏi phải tính đến các yếu tố về an toàn cho người lao động, cho máy móc, cho thiết bị, bảo đảm chất lượng sản phẩm và tạo ra một môi trường làm việc thuận lợi cho người công nhân.

 

Mọi quy định về chống ồn, chống bụi, chống rung, chống nóng, chống cháy nổ, … phải được tuân thủ. 

Trong thiết kế mặt bằng phải đảm bảo khả năng thông gió và chiếu sáng tự nhiên; các phân xưởng sinh ra nhiều bụi, khói, hơi độc, bức xạ có hại,… phải được bố trí thành khu nhà riêng biệt ở cuối hướng gió chính và không được bố trí gần khu vực dân cư. 

Nguyên tắc tiết kiệm đất đai 

Đất đai là một trong những tư liệu sản xuất quý, bởi vậy , trên cơ sở đảm bảo các yêu cầu về mặt kỹ thuật, an toàn và vẻ đẹp,… bố trí mặt bằng phải quán triệt nguyên tắc tiết kiệm đất đai. 

Hiệu quả sử dụng diện tích được đánh giá thông qua 2 chỉ tiêu là mật độ xây dựng và hệ số sử dụng diện tích. 

– Mật độ xây dựng là tỷ số giữa diện tích do những công trình kiến trúc có mái che so với toàn bộ diện tích của nhà máy. Trong các nhà máy sản xuất sản phẩm công nghiệp, hệ số này nằm trong khoảng 0.35~0.45.

– Hệ số sử dụng diện tích là tỷ số giữa diện tích các công trình kiến trúc có mái che và phần diện tích sử dụng khác ( trạm biến áp, đường vận chuyển, kho bãi ngoài trời,…) trên toàn bộ diện tích của nhà máy. Trong sản xuất công nghiệp, hệ số này nằm trong khoảng 0.35~0.45. 

Hiện nay để tiết kiệm đất đai trong sản xuất công nghiệp, trong những trường hợp cho phép người ta vẫn có thể xây dựng các xưởng sản xuất nhiều tầng. 

 

2.7. Kiểm soát hệ thống sản xuất

 

Trong chức năng kiểm soát hệ thống sản xuất có hai nội dung quan trọng nhất là kiểm tra kiểm soát chất lượng và quản trị hàng tồn kho. Hàng dự trữ tồn kho luôn là một trong những yếu tố chiếm tỷ trọng chi phí khá lớn trong giá thành sản phẩm. Ngoài ra dự trữ không hợp lý sẽ dẫn đến ứ đọng vốn, giảm hệ số sử dụng và vòng quay của vốn hoặc gây ra ách tắc cho quá trình sản xuất do không đủ dự trữ nguyên liệu cho quá trình sản xuất hoặc sản phẩm hoàn chỉnh không bán được. Hoạt động quản trị hàng dự trữ được đề cập đến với những mô hình cụ thể ứng dụng cho từng trường hợp sao cho tìm được điểm cân bằng tối ưu giữa chi phí tồn kho và lợi ích của dự trữ tồn kho đem lại. Quản trị hàng dự trữ, tồn kho phải đảm bảo cả về mặt hiện vật và giá trị nhằm đảm bảo tối ưu, không tách rời nhau hai luồng chuyển động giá trị và hiện vật. Những phương pháp quản trị giá trị và hiện vật sẽ cho phép kiểm soát chặt chẽ lượng dự trữ tồn kho trong từng thời kỳ. Quản lý chất lượng trong sản xuất là một yếu tố mang ý nghĩa chiến lược trong giai đoạn ngày nay. Để sản xuất sản phẩm ra với chi phí sản xuất thấp, chất lượng cao đáp ứng được những mong đợi của khách hàng thì hệ thống sản xuất của các doanh nghiệp phải có chất lượng cao và thường xuyên được kiểm soát. Quản lý chất lượng chính là nâng cao chất lượng của công tác quản lý các yếu tố, bộ phận toàn bộ quá trình sản xuất của mỗi doanh nghiệp. Trong quản lý chất lượng sẽ tập trung giải quyết những vấn đề cơ bản về nhận thức và quan điểm về chất lượng và quản lý chất lượng của các doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường. Phân tích mục tiêu, nhiệm vụ, các đặc điểm, phạm vi và chức năng của quản lý chất lượng trong sản xuất là cơ sở khoa học để các cán bộ quản trị sản xuất xây dựng chính sách, chiến lược chất lượng cho bộ phận sản xuất. Một yêu cầu bắt buộc đối với các cán bộ quản trị sản xuất là cần hiểu rõ và biết sử dụng các công cụ và kỹ thuật thống kê trong quản lý chất lượng. Hệ thống công cụ thống kê và kỹ thuật thống kê góp phần đảm bảo cho hệ thống sản xuất được kiểm soát chặt chẽ và thường xuyên có khả năng thực hiện tốt những mục tiêu chất lượng đã đề ra.

7 yếu tố quan trọng đối với người kinh doanh ngành quản trị nhà hàng

Nếu bạn chọn ngành quản trị nhà hàng để tiến bước trên con đường sự nghiệp thì hãy không ngừng trau dồi những kỹ năng mềm, những kiến thức thay đổi từng ngày. Bởi không có một nhà hàng nào đủ sức hấp dẫn với tất cả mọi người. Đó là một thực tế mà nhiều người mới bước vào kinh doanh khó chấp nhận….

Trong bài viết này, Luận Văn Việt chuyên viết luận văn tốt nghiệp sẽ chia sẻ đến bạn: “7 yếu tố quan trong khi Kinh doanh ngành quản trị nhà hàng”

7 yếu tố quan trọng đối với người kinh doanh ngành quản trị nhà hàng
7 yếu tố quan trọng đối với người kinh doanh ngành quản trị nhà hàng

Nhà hàng là một trong những loại hình kinh doanh thử thách nhất để bắt đầu. Nó đòi hỏi sự tận tâm và khả năng nắm bắt chi tiết. Từng bước hướng dẫn dưới đây sẽ giúp bạn quản lý cả quá trình để bắt đầu kinh doanh nhà hàng, từ việc lựa chọn ý tưởng tới việc tìm địa điểm và nhân viên. 

Xu hướng ăn ở nhà hàng ngày càng gia tăng ở bất kì quốc gia nào. Chỉ tính riêng ở Mỹ, người ta dự đoán vào khoảng năm 2010, ngành công nghiệp nhà hàng sẽ đạt doanh thu khoảng 577 tỉ USD/năm. Với tốc độ phát triển như ngày nay, Việt Nam cũng sẽ không tránh khỏi xu thế đó.

Mặc dù tương lai kinh doanh nhà hàng có vẻ tươi sáng nhưng không có gì đảm bảo ai cũng có thể thành công trong ngành này. Thậm chí những người kinh doanh thành công nhất cũng cho rằng đó không phải là ngành “kiếm tiền nhanh chóng”. Nó giống với một ngành “làm việc chăm chỉ và tìm kế sinh nhai” hơn. 

Một thực tế hiển nhiên là có rất nhiều nhà hàng bị thua lỗ trong năm đầu kinh doanh mà nguyên nhân chủ yếu là thiếu hoạch định. Điều này có nghĩa kinh doanh nhà hàng là một nghề phức tạp? Không hẳn như vậy, thực tế, bạn càng tổ chức hợp lý, cơ hội thành công càng cao. Robert Owens, chủ của nhà hàng kinh doanh đồ biển RV tại Bắc Carolina cho biết “Kinh doanh nhà hàng là ngành kinh doanh đơn giản mà con người làm cho nó phức tạp lên”. Công thức thành công của ông là đồ ăn chất lượng và phục vụ tốt-phương pháp rất có hiệu quả đối với ông trong gần một phần tư thế kỷ qua. 

Dù ước mơ của bạn là mở một nhà hàng ăn tối truyền thống, hiệu bánh pizza kiểu New York, buffet Trung Quốc hay tiệm cà phê, bạn cũng có thể áp dụng từng bước dưới đây: 

1. Thị trường mục tiêu 

Không có một nhà hàng nào đủ sức hấp dẫn với tất cả mọi người. Đó là một thực tế mà nhiều người mới bước vào kinh doanh khó chấp nhận. Vì thế, hãy chỉ nhắm vào 5 hay 10% thị trường và phục vụ tốt, thế là bạn đã thành công. 

Bạn có thể phân đoạn thị trường theo độ tuổi, theo thu nhập, sở thích hay nhà hàng đặc thù (nhà hàng dinh dưỡng, nhà hàng ăn chay…). Tuỳ từng cách phân đoạn, bạn tìm hiểu đặc điểm của từng đối tượng để có cách thức kinh doanh phù hợp. Ví dụ phân đoạn theo độ tuổi.

Thế hệ Y: thế hệ này, còn được gọi là thế hệ thiên niên kỷ, sinh từ năm 1980 trở về sau. Thế hệ này rất năng động, thích cái mới, dễ cuốn vào trào lưu, muốn khẳng định mình và khá độc lập.

-Thế hệ X: Là những người đã trưởng thành trẻ tuổi, được sinh ra trong khoảng 1965-1977. Họ bắt đầu trầm hơn, không thích bị chú ý, chín chắn và quan tâm tới thực chất.

-Thế hệ sinh từ năm 1946-1964: Ở lứa tuổi này họ đã có một sự nghiệp ổn định, ưa thích sự sang trọng…

Cần phân tích đặc điểm của từng khách hàng để lựa chọn khách hàng mục tiêu nhằm phục vụ một cách hiệu quả nhất. 

7 yếu tố quan trọng đối với người kinh doanh ngành quản trị nhà hàng
7 yếu tố quan trọng đối với người kinh doanh ngành quản trị nhà hàng

2. Lựa chọn địa điểm 

Tuỳ thuộc vào số tiền bạn có thể đầu tư vào việc mở nhà hàng và loại hình nhà hàng mà bạn lựa chọn để có hướng tìm địa điểm phù hợp. 

Không phải hầu hết các nhà hàng đều cần gần nơi đông dân cư, tuy nhiên đối với những nhà hàng phụ thuộc vào đặc điểm này, cần lưu ý một số điểm khi lựa chọn nơi kinh doanh: 

-Lượng bán hàng dự kiến. Địa điểm bán hàng ảnh hưởng như thế nào tới khối lượng bán của bạn?

-Giao thông. Xem xét lưu lượng người đi bộ và đi xe. Có khoảng bao nhiêu lượt người đi bộ và đi xe qua lại mỗi ngày? Địa điểm có thuận lợi cho việc dừng chân của khách hàng hay không?

-Nhân khẩu học. Những người sống và làm việc gần địa điểm đó có phù hợp với khách hàng mục tiêu của bạn không?

-Khả năng thanh toán tiền thuê địa điểm. Nếu bạn đã tính toán lỗ lãi trong năm đầu kinh doanh, bạn sẽ biết con số gần chính xác doanh thu bạn sẽ đạt được là bao nhiêu và dùng con số này để quyết định nên thuê địa điểm với mức bao nhiêu thì vừa. 

-Thuận lợi dừng đỗ xe. Địa điểm phải đảm bảo có chỗ để xe cho khách và dễ dừng đỗ.

 

-Gần các cửa hàng khác. Những cửa hàng gần kề có thể ảnh hưởng tới doanh số của bạn, sự có mặt của họ tác động bất lợi hay có lợi? 

-Lịch sử của địa điểm. Tìm hiểu lịch sử trước khi quyết định thuê hay không. Ai là người thuê trước đó và tại sao họ lại không thuê nữa? 

-Phát triển trong tương lai. Tìm hiểu chiến lược quy hoạch của địa phương để biết trước liệu có sự thay đổi nào liên quan đến địa điểm bạn định thuê hay không? 

-Các điều khoản thuê. Tìm hiểu kỹ hợp đồng thuê để có những thoả thuận hợp lý nhất. 

3. Bố trí, sắp đặt 

Sắp đặt và thiết kế là những yếu tố quan trọng góp phần vào sự thành công của nhà hàng. Bạn cần thiết kế hợp lý cho khu chế biến, khu bếp, khu trữ hàng, khu văn phòng và khu dành cho khách. Thông thường, khu dành cho khách ăn chiếm từ 40-60% diện tích nhà hàng, 30% dành cho khu chế biến và nấu nướng, phần còn lại là khu trữ hàng và khu văn phòng. 

-Khu dành cho khách: đây là khu giúp bạn kiếm tiền, chính vì thế đừng cắt xén nó khi thiết kế. Hãy dành thời gian thăm càng nhiều nhà hàng càng tốt để phân tích cách bài trí của những nhà hàng đó. Hãy quan sát thái độ của những khách hàng tới ăn, họ phản ứng ra sao với những cách bài trí đó? Chúng tiện lợi hay không? Phân tích những cái hay và dở để rút kinh nghiệm

Cách thiết kế khu dành cho khách phụ thuộc vào quan niệm của bạn. Thống kê cho thấy 40 đến 50% khách hàng tới theo đôi, 30% đi một mình hoặc nhóm 3 người, 20% đi theo nhóm từ 4 người trở lên. Để đáp ứng từng nhóm khách khác nhau, hãy dùng bàn cho 2 người và dùng loại có thể di chuyển để lắp ghép thành bàn rộng hơn. Cách này giúp bạn linh hoạt hơn trong việc phục vụ từng nhóm khách hàng khác nhau.

-Khu chế biến. Các khu chế biến trong nhà hàng thường rơi vào tình trạng thiết kế không hiệu quả. Hãy nắm rõ thực đơn trong đầu để xác định từng yếu tố trong khu vực chế biến. Bạn cũng cần khu vực dành cho việc nhận, cất giữ nguyên liệu, sơ chế, nấu, rửa chén bát, khu đựng rác, thuận lợi cho nhân viên và khu dành cho văn phòng. 

Hãy sắp xếp khu chế biến thức ăn sao cho chỉ cách khu nấu nướng vài bước chân. Cách thiết kế của bạn cũng nên cho phép hai đầu bếp hoặc nhiều hơn cùng làm khi có nhiều khách. 

4. Lên thực đơn 

Thực đơn là danh sách các món ăn hay đồ uống mà nhà hàng của bạn hiện có, được đưa ra để khách hàng lựa chọn. Khi lên thực đơn, bạn cần lưu ý đến trẻ em nếu khách hàng mục tiêu của bạn bao gồm cả đối tượng này, ví dụ như thiết kế một số món với khẩu phần nhỏ hơn để hấp dẫn các em nhỏ. 

Thực đơn có xu hướng ngày càng dài và điều này chỉ khiến cho khách hàng thêm rối trí. Hãy sắp xếp các món theo mục, cố gắng cung cấp cho khách hàng nhiều sự lựa chọn nhất nhưng với thực đơn ngắn gọn nhất. 

5. Những quy định về an toàn thực phẩm 

An toàn thực phẩm cần được đặt lên hàng đầu khi bạn dấn thân vào việc kinh doanh nhà hàng. Bạn cần tìm hiểu về những quy định an toàn thực phẩm mà các nhà chức trách đã đưa ra để thực hiện cho đúng. Uy tín của nhà hàng sẽ rất khó lấy lại nếu bạn để khách hàng của mình bị ngộ độc, ngoài ra bạn còn phải trả chi phí điều trị không nhỏ cho khách hàng. 

6. Tuyển nhân viên 

Bước đầu tiên trong chương trình tuyển dụng nhân viên là quyết định chính xác bạn muốn nhân viên làm gì. Bảng mô tả công việc không nhất thiết phải quy mô như của các công ty lớn, điều quan trọng là nó phải liệt kê được trách nhiệm và phận sự của từng công việc. 

Tiếp theo bạn cần lập bảng quy định mức lương. Để đạt hiệu quả tối ưu, bạn nên nghiên cứu mức lương chung trong ngành, sau đó đặt ra mức lương tối đa và tối thiểu đối với từng vị trí để việc trả lương dựa vào năng lực được linh hoạt hơn. 

Có một số vị trí đặc biệt bạn cần lưu tâm:

– Người quản lý: Vị trí quan trọng nhất trong hầu hết các nhà hàng là người quản lý. Tốt nhất là người đó phải đã từng quản lý một hay nhiều nhà hàng và có mối quan hệ với các nhà cung cấp thực phẩm. Chắc chắn bạn cũng muốn có được một người quản lý có kỹ năng và khả năng giám sát nhân viên đồng thời vẫn làm toát lên phong cách và cá tính của nhà hàng. Để có được người quản lý như thế bạn cần phải trả mức lương tương xứng và nên tuyển trước khi mở cửa hàng ít nhất 1 tháng để họ có thể tư vấn cho bạn. 

-Bếp trưởng và đầu bếp: khi mới bắt đầu bạn có thể cần 3 đầu bếp, 2 người làm toàn thời gian và 1-bán thời gian, giờ làm việc từ 10h sáng đến 4h chiều hoặc từ 4h chiều tới lúc đóng cửa. Người làm bán thời gian được bố trí vào những giờ cao điểm, cuối tuần hoặc ngày lễ 

-Người phục vụ: Họ là những người trực tiếp tiếp xúc với khách hàng của bạn, vì thế họ cần phải tạo ra ấn tượng dễ chịu và có thể làm việc tốt dưới áp lực lớn, cùng lúc phục vụ nhiều  bàn mà vẫn giữ được vẻ tươi tỉnh. 

Đối với bất kì nhân viên nào bạn cũng nên cho họ biết triết lý của nhà hàng cũng như hình ảnh mà bạn muốn xây dựng để cùng nhau phấn đấu. 

7. Chiến lược marketing và quảng bá 

Bất cứ công ty nào cũng cần có một kế hoạch marketing và loại hình kinh doanh nhà hàng không phải là ngoại lệ. Tuy nhiên dù áp dụng chiến lược marketing nào đi chăng nữa bạn cũng không nên bỏ qua phương pháp marketing truyền miệng bởi theo nghiên cứu, đây là phương pháp quảng cáo tốt nhất đối với ngành kinh doanh thực phẩm. 

Khi khai trương nhà hàng bạn có thể gửi giấy mời dùng bữa miễn phí tới những nhân vật tiêu biểu trong tập khách hàng mà bạn nhắm tới. Đăng kí tên trên danh sách các địa chỉ ẩm thực, sách hướng dẫn du lịch, quảng cáo trên các phương tiện thông tin hoặc giới thiệu cách chế biến một vài món ăn đặc trưng của nhà hàng trên tạp chí.

Mẫu đề cương cơ sở lý thuyết luận văn kế toán quản trị chi phí

Bạn đang ngán ngẩm với bài luận văn kế toán quản trị chi phí? Trong bài viết này, Luận Văn Việt  chuyên viết luận văn tốt nghiệp sẽ chia sẻ đến bạn mẫu đề cương phần cơ sở lý thuyết. Hi vọng, bạn sẽ có thể tự làm bài luận văn của mình một cách dễ dàng.

Mẫu đề cương cơ sở lý thuyết luận văn kế toán quản trị chi phí
Mẫu đề cương cơ sở lý thuyết luận văn kế toán quản trị chi phí

1. TỔNG QUAN VỀ QUẢN TRỊ CHI PHÍ TRONG CÁC DOANH NGHIỆP

1.1. Khái niệm quản trị chi phí kinh doanh 

Quản trị chi phí kinh doanh là quá trình phân tích, tập hợp, tính toán và quản trị các chi phí kinh doanh phát sinh trong quá trình sản xuất và tiêu thụ sản phẩm (dịch vụ) nhằm cung cấp thường xuyên các thông tin về chi phí kinh doanh đảm bảo độ chính xác cần thiết làm cơ sở cho các quyết định quản trị doanh nghiệp. 

Quản trị chi phí kinh doanh nhằm cung cấp thông tin về chi phí kinh doanh để mỗi tổ chức thực hiện chức năng quản trị yếu tố nguồn lực tiêu dùng cho các hoạt động, nhằm xây dựng kế hoạch, kiểm soát, đánh giá hoạt động và ra các quyết định hợp lý. 

1.2.  Vai trò của quản trị chi phí trong doanh nghiệp 

Quản trị chi phí giúp doanh nghiệp có thể cải thiện chất lượng sản phẩm hay dịch vụ của mình mà không làm thay đổi chi phí, giúp doanh nghiệp tập trung năng lực của mình vào các điểm mạnh. 

Quản trị chi phí giúp người ra quyết định nhận diện được các nguồn lực có chi phí thấp trong việc sản xuất và cung ứng hàng hóa, dịch vụ. 

Mẫu đề cương cơ sở lý thuyết luận văn kế toán quản trị chi phí
Mẫu đề cương cơ sở lý thuyết luận văn kế toán quản trị chi phí

2. PHÂN LOẠI CHI PHÍ TRONG CÁC DOANH NGHIỆP 

2.1. Phân loại chi phí theo chức năng hoạt động

  • Chi phí sản xuất 
  • Chi phí ngoài sản xuất

2.2. Phân loại chi phí theo cách ứng xử của chi phí

– Biến phí 

Biến phí tỷ lệ 

Biến phí cấp bậc 

– Định phí 

Định phí bắt buộc 

Định phí tuỳ ý 

– Chi phí hỗn hợp 

2.3. Phân loại chi phí phục vụ cho việc ra quyết định

  • Chi phí trực tiếp và chi phí gián tiếp 
  • Chi phí kiểm soát được và chi phí không kiểm soát được 
  • Chi phí tránh được và chi phí không tránh được 
  • Chi phí chênh lệch 
  • Chi phí cơ hội 
  • Chi phí chìm 

3. NỘI DUNG QUẢN TRỊ CHI PHÍ TRONG CÁC DOANH NGHIỆP

3.1. Hoạch định chi phí trong doanh nghiệp 

Hoạch định là xây dựng các mục tiêu phải đạt được cho từng giai đoạn công việc cụ thể, vạch ra các bước, phương pháp thực hiện để đạt được các mục tiêu đó. 

– Lập phương án tổ chức sản xuất 

Công tác tổ chức sản xuất là việc làm đầu tiên của quá trình tổ chức sản xuất, nó chính là việc hoạch định những giải pháp trên những điều kiện cho phép về kết cấu kỹ thuật, điều kiện thời tiết khí hậu, thời gian, về phương pháp kỹ thuật, khả năng cung cấp vật tư, về lao động, tài chính,… nhằm mục tiêu tổ chức quá trình sản xuất hiệu quả nhất. 

– Lập dự toán chi phí 

Dự toán là quá trình tính toán chi tiết cho kỳ tới, nhằm huy động và sử dụng các nguồn lực theo các mục tiêu kế hoạch đề ra trong từng thời kỳ cụ thể. Lập dự toán chi phí SXKD là việc lập dự kiến chi tiết những chỉ tiêu trong hệ thống quá trình SXKD của doanh nghiệp trong từng kỳ. 

Dự toán chi phí NVL trực tiếp được tính căn cứ vào định mức tiêu hao NVL và đơn giá dự toán của NVL. 

Dự toán chi phí NCTT được tính trên căn cứ đơn giá tiền lương được xây dựng cho từng sản phẩm và sản lượng sản phẩm dự kiến sản xuất trong kỳ. 

Dự toán chi phí SXC bao gồm dự toán biến phí SXC và dự toán định phí SXC. 

Dự toán chi phí bán hàng và chi phí quản lý DN 

Tương tự như chi phí SXC, chi phí bán hàng và chi phí quản lý DN có thể chia thành biến phí và định phí. 

Dự toán chi phí tài chính 

3.2. Tổ chức thực hiện chi phí 

Tập hợp và tính chi phí sản phẩm theo theo phương pháp truyền thống 

Tính chi phí sản phẩm theo quá trình hoạt động (ABC –Activity Based Costing) 

3.3. Lãnh đạo chi phí 

Khi chúng ta so sánh giữa kết quả đạt được với chi phí thực hiện sẽ có khái niệm hiệu quả hoạt động.

Hiệu quả = Kết quả – chi phí 

Hiệu quả sẽ tăng khi tăng kết quả với chi phí không đổi hoặc giảm chi phí mà vẫn giữ nguyên kết quả. Muốn đạt được cả hai điều đó đòi hỏi phải biết cách quản lý chi phí. 

Để đánh giá hiệu quả hoạt động, các nhà quản trị chi phí có thể lập các báo cáo kết quả kinh doanh. 

3.4. Kiểm soát chi phí 

Kiểm soát chi phí NVL trực tiếp 

Kiểm soát chi phí NCTT 

Kiểm soát chi phí SXC 

Kiểm soát CPBH và chi phí QLDN 

3.5.  Ra quyết định quản trị 

Phân tích thông tin chi phí 

Thông tin chi phí thích hợp hỗ trợ cho các nhà quản trị trong việc đưa ra các quyết định kinh doanh. Quá trình ra quyết định là việc lựa chọn từ nhiều phương án khác nhau với rất nhiều thông tin của kế toán, trong đó thông tin về chi phí luôn rất quan trọng trong các quyết định ngắn hạn. 

Phân tích chi phí theo các trung tâm chi phí 

– Đối với trung tâm cung ứng

– Đối với trung tâm sản xuất 

– Đối với trung tâm tiêu thụ 

– Đối với trung tâm quản lý 

– Đối với trung tâm đầu tư  

Phân tích mối quan hệ giữa chi phí – sản lượng – lợi nhuận 

Các quyết định về giá bán dựa trên chi phí  

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 

Trong chương 1, luận văn đã tập trung nghiên cứu, làm sáng tỏ những vấn đề lý luận cơ bản về quản trị chi phí trong các DN sản xuất kinh doanh. Để đảm bảo tính hệ thống, luận văn đã phân tích vai trò của quản trị chi phí, KTQT và kế toán chi phí, cách phân loại chi phí trong SXKD. Trên cơ sở đó luận văn đã xác định nội dung của quản trị chi phí bao gồm hoạch định chi phí, tổ chức thực hiện chi phí, lãnh đạo chi phí, kiểm soát chi phí, ra quyết định quản trị. Những vấn đề đã nghiên cứu trong chương 1 của luận văn sẽ là cơ sở để xem xét, đánh giá thực trạng về quản trị chi phí tại công ty cổ phần đường Kon Tum. Từ đó tìm ra những giải pháp hoàn thiện công tác quản trị chi phí cho công ty cổ phần đường Kon Tum.
Từ khóa liên quan: luận văn thạc sĩ kế toán quản trị, luận văn thạc sĩ kế toán quản trị chi phí, ngành quản trị tài chính kế toán

Quản trị truyền thông

Ngành quản trị truyền thông là ngành được coi là “hot” năm 2019 vì mang tới cơ hội việc làm rộng mở và đầy hứa hẹn cho những cử nhân tương lai. Trong bài viết này, Luận Văn Việt chuyên viết luận văn tốt nghiệp xin chia sẻ đến bạn đọc  “Những điều cần biết về ngành quản trị truyền thông”.

Quản trị truyền thông nghe có vẻ xa lạ và to lớn với nhiều người nhưng về thực chất, đây là chương trình đại học quản trị kinh doanh áp dụng trong các ngành kinh tế truyền thông, một lĩnh vực vẫn chưa phát triển chuyên nghiệp ở Việt Nam.

Những điều cần biết về ngành quản trị truyền thông
Những điều cần biết về ngành quản trị truyền thông

Ảnh – Những điều cần biết về ngành quản trị truyền thông

1. Ngành quản trị truyền thông là gì?

Quản trị truyền thông thực chất chính là quản trị kinh doanh nhưng được đào tạo chuyên sâu vào quản trị lĩnh vực truyền thông. Quản trị truyền thông có một sự liên kết rõ ràng từ quản trị tới công nghệ thông tin và truyền thông. Theo đó nó thích hợp không chỉ cho những người đang làm việc trong các cơ quan thông tin-truyền thông mà còn cho tất cả các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ quảng bá trên các phương tiện truyền thông, cũng như các nhân viên chuyên trách tiếp thị, quảng cáo, giao tế cộng đồng, tổ chức sự kiện, xây dựng nhãn hiệu… tại các doanh nghiệp và tổ chức bên ngoài khu vực truyền thông.

Đây chính là chuyên ngành mới của Đại học Văn Hiến bắt đầu mở từ năm nay sau khi VTC trở thành nhà đầu tư chiến lược. Ngoài những bộ môn quản trị tài chính, quản trị nhân lực, quản trị hoạt động… sinh viên sẽ được bổ sung thêm các kiến thức về truyền thông, đặc biệt là truyền thông hiện đại, gắn với công nghệ thông tin và các phương tiện truyền thông số. Việc đào tạo sâu vào lĩnh vực chuyên ngành nhằm đáp ứng nhu cầu nhân lực của chính doanh nghiệp chủ quản là hướng đi của các trường Đại học tư thục, có gắn với doanh nghiệp.

Quản trị truyền thông
Quản trị truyền thông

2. “Quản trị truyền thông” khác gì so với đào tạo “Quan hệ công chúng” hoặc “Quảng cáo truyền thông” truyền thống

Theo ông Raj Dass – Trưởng Ban hợp tác quốc tế Khu vực Châu Á, Thái Bình Dương, Đại học Greenwich (Vương quốc Anh): “Quản trị truyền thông không chỉ dạy cho sinh viên những kỹ năng làm việc với báo chí hay những phương thức quảng cáo tiếp thị truyền thống. Ngày nay với sự phát triển chóng mặt của Internet và mạng xã hội, bất kể ai trong chúng ta cần có lượng kiến thức nhất định để có thể phân loại và đánh giá thông tin, điều này càng quan trọng đối với những người làm trong lĩnh vực truyền thông.

Giáo trình “Quản trị truyền thông” của chúng tôi sẽ giúp sinh viên nắm được những phương thức mới như quảng cáo, truyền thông tích hợp trên nhiều nền tảng cũng như những kênh giao tiếp nhanh và hiệu quả nhất. Có khả năng lên kế hoạch quản trị bất cứ thương hiệu nào ở tầm chiến lược vĩ mô và lâu dài”.

Bên cạnh đó sinh viên cũng sẽ nắm được mô hình hoạt động của các tổ chức doanh nghiệp, nền tảng pháp lý và các kỹ năng quản trị trong một tổ chức, doanh nghiệp. Ngoài ra, những môn học như “Đánh giá truyền thông”, “Đạo đức & lý thuyết xã hội trong truyền thông” là những kiến thức mà tôi chưa thấy xuất hiện nhiều trong các giáo trình truyền thống thuần về quan hệ công chúng, quan hệ báo chí hay quảng cáo, tiếp thị tại Việt Nam.

3. Cơ hội nghề nghiệp ngành quản trị truyền thông

Ông Raj Dass cho biết thêm: “Với những kiến thức bao quát trong giáo trình “Quản trị truyền thông” và kỹ năng tiếng anh được phát triển trong môi trường quốc tế, các sinh viên Đại học Greenwich (Việt Nam) hoàn toàn đủ năng lực cho những vị trí từ sơ cấp tới cao cấp cho các thương hiệu lớn trong và ngoài nước và cả các tổ chức phi chính phủ tại Việt Nam.

Nhiều sinh viên đã tốt nghiệp chuyên ngành này tại Vương quốc Anh đã ngay lập tức được nhận vào làm việc tại Apple, Ford, Disney và cả những tập đoàn nổi tiếng lĩnh vực truyền thông báo chí như BBC, Twitter, Weber Shandwick…”

Quản trị truyền thông hứa hẹn trở thành ngành học hot không chỉ tại Việt Nam mà cả các nước trên thế giới. Tại Việt Nam, các trường đại học quốc tế được xem là có ưu thế nhiều hơn so với các giáo trình truyền thống. Trường thường xuyên cập nhật thị trường thực tế và trang bị vốn ngoại ngữ cho sinh viên.

Phụ huynh và học sinh nên tìm hiểu cặn kẽ và hiểu rõ cấu trúc chương trình cũng như bản chất các môn học, để lựa chọn chương trình học phù hợp, là nền tảng vững chắc cho sự nghiệp sau này.

Ngành quản trị thương hiệu là gì?

Trong bài viết này, Luận Văn Việt chuyên viết luận văn tốt nghiệp xin chia sẻ đến bạn đọc mẫu đề cương phần cơ sở lý thuyết luận văn ngành quản trị thương hiệu. Hi vọng với bài chia sẻ này, bạn sẽ có thể tự xây dựng bài luận văn cho riêng mình một cách dễ dàng nhất.

Ngành quản trị thương hiệu là gì?
Ngành quản trị thương hiệu là gì?

1. Ngành quản trị thương hiệu là gì?

Để tạo được vị thế trong thị trường hiện nay, mỗi một công ty, doanh nghiệp cần tạo cho mình một thương hiệu uy tín cho khách hàng. Một thương hiệu tốt sẽ là một thương hiệu được người tiêu dùng tin cậy, từ đó doanh thu cho sản phẩm có thương hiệu đó đại diện sẽ tăng cao. Đây chính là bước đầu hình thành nên sự thành công cho quá trình kinh doanh của mỗi doanh nghiệp, công ty.

Quản trị thương hiệu là một trong quá trình xây dựng thương hiệu, tạo độ tin cậy cho khách hàng. Quản trị thương hiệu cũng có thể hiểu là sự duy trì vị thế của thương hiệu trong thị trường. Một thương hiệu có thể nổi tiếng trong thời gian này nhưng cũng có thể không còn được tin tưởng trong những thời gian sau. Chính vì vậy, mỗi doanh nghiệp cần duy trì, bảo dưỡng thương hiệu của mình để không làm mất đi niềm tin từ phía khách hàng. Quản trị thương hiệu chính là như vậy. Quá trình quản trị thương hiệu diễn ra liên tục bởi ngày nay, xã hội ngày một phát triển, các sản phẩm ngày càng đa dạng, thị trường tăng cao độ cạnh tranh. Quản trị thương hiệu sẽ giúp thương hiệu trở nên ổn định, không làm mất đi giá trị của chúng dù phải thay đổi môi trường kinh doanh.

2. Mẫu đề cương cơ sở lý thuyết luận văn ngành quản trị thương hiệu chi tiết 2019

Tên đề tài: Quản trị thương hiệu tại trường ABC

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN TRỊ THƯƠNG HIỆU 

1.1. NHẬN THỨC CHUNG VỀ THƯƠNG HIỆU 

1.1.1. Thương hiệu 

1.1.1.1. Khái niệm thương hiệu 

Theo hiệp hội Marketing Hoa Kỳ: Thương hiệu là “ một cái tên, từ ngữ, ký hiệu, biểu tượng hoặc hình vẽ, thiết kế… tập hợp của các yếu tố trên nhằm xác định và phân biệt hàng hóa và dịch vụ của một người bán hoặc nhóm người bán với hàng hóa và dịch vụ của các ñối thủ cạnh tranh”[9,17] 1.1.1.2. Các yếu tố thương hiệu 

Một thương hiệu nói chung có thể được cấu thành bởi hai phần: Phát âm được, không phát âm được 

1.1.2. Đặc tính thương hiệu 

1.1.2.1. Khái niệm đặc tính thương hiệu 

Đặc tính thương hiệu là tập hợp duy nhất các liên kết thuộc tính mà các nhà chiến lược thương hiệu mong muốn tạo ra và duy trì. 

1.1.2.2. Đặc tính thương hiệu và hình ảnh thương hiệu 

Hình ảnh thương hiệu là kết quả của việc giải mã thông điệp nhận được. Từ góc độ quản trị thương hiệu, đặc tính thương hiệu phải được xác định trước và thông qua truyền thông tạo nên hình ảnh thương hiệu. 

1.1.3. Giá trị thương hiệu [9, tr.90-94], [11, tr. 83-86] 

1.1.3.1. Sự trung thành của khách hàng với thương hiệu 

Chương trình chăm sóc khách hàng giúp trực tiếp củng cố hành vi trung thành của khách hàng. Những chương trình này không chỉ tăng cường việc xác định giá trị của thương hiệu mà còn tăng cường các mục tiêu khác. 1.1.3.2. Nhận biết về thương hiệu 

Sự nhận biết thương hiệu được tạo ra từ các chương trình truyền thông như tiếp thị, quảng cáo, quan hệ cộng đồng, các hoạt động hỗ trợ tài chính… giúp thu hút thêm khách hàng mới, mở rộng thị phần 

1.1.3.3. Sự cảm nhận về chất lượng của khách hàng 

(i) Chất lượng được cảm nhận chi phối kết quả tài chính

(ii) Chất lượng được cảm nhận là một sức ép mang tính chiến lược 

(iii) Chất lượng được cảm nhận là thước ño sự tinh tế của thương hiệu 1.1.3.4. Các liên hệ thương hiệu 

Các liên hệ thương hiệu mà khách hàng có thể cảm nhận và đánh giá là các thuộc tính của sản phẩm; hình ảnh hay một biểu tượng cụ thể nào đó. 

Ngành quản trị thương hiệu
Ngành quản trị thương hiệu

1.2. QUẢN TRỊ THƯƠNG HIỆU 

1.2.1. Định nghĩa quản trị thương hiệu 

Quản trị thương hiệu được đưa ra đầu tiên bởi Neil H. McElroy thuộc tập đoàn Procter & Gamble: “Quản trị thương hiệu được hiểu là việc ứng dụng các kỹ năng marketing cho một sản phẩm, một dòng sản phẩm hoặc một thương hiệu chuyên biệt, nhằm gia tăng giá trị cảm nhận về sản phẩm của người tiêu dùng và từ đó gia tăng tài sản thương hiệu, khả năng chuyển nhượng thương quyền”. 

1.2.2. Định vị thương hiệu 

1.2.2.1. Khái niệm định vị thương hiệu 

Theo công ty thương hiệu Lantabrand: Định vị thương hiệu là việc tạo ra vị thế riêng biệt của thương hiệu trong môi trường cạnh tranh để đảm bảo rằng mỗi khách hàng trong thị trường có thể phân biệt ñược thương hiệu ấy với các thương hiệu cạnh tranh khác. [20] 

1.2.2.2. Các tiêu chí của định vị thương hiệu 

Xác định doanh nghiệp đang ở vị trí nào; Xác định doanh nghiệp muốn sở hữu vị trí nào; Ngân sách cho kế hoạch định vị của doanh nghiệp như thế nào; Doanh nghiệp có thể tiếp tục đến cùng; Bối cảnh cạnh tranh. 

1.2.3. Chiến lược xây dựng thương hiệu 

1.2.3.1. Chiến lược mở rộng thương hiệu 

Mở rộng thương hiệu là việc tận dụng sức mạnh của thương hiệu trong việc mở rộng sản phẩm, mở rộng thị trường hoặc mở rộng sang ngành khác. Doanh nghiệp có thể thúc đẩy sản phẩm của thương hiệu mình tới những thị trường mới để tăng doanh số bán hàng, tăng lợi nhuận sản xuất và nâng cao danh tiếng cho mình. 

1.2.3.2. Các chiến lược tiếp thị hỗn hợp nhằm tạo dựng giá trị thương hiệu [9, tr.263] 

  1. Chiến lược về sản phẩm
  2. Chiến lược giá 

c.Chiến lược kênh phân phối 

  1. Chiến lược truyền thông 

1.2.4. Mô hình quản trị thương hiệu 

1.2.4.1. Mô hình con tàu thương hiệu  

Hướng tiếp cận của mô hình: Định hướng mô hình xây dựng thương hiệu theo hình con tàu và việc phát triển thương hiệu như là việc điều khiển tàu.  Kết quả: Mô hình con tàu thương hiệu nhằm xây dựng một thương hiệu có định hướng được điều khiển và định kỳ được làm mới để tăng động lực. Hạn chế: Chưa xác lập được các cơ sở và phương pháp để thực hiện ñiều đó 

1.2.4.2. Mô hình quản trị tài sản thương hiệu của Scott.M.Davis[14, tr.3- 4]  Hướng tiếp cận của mô hình: hướng ngoại, đẩy mạnh việc xây dựng thương hiệu thông qua các yếu tố bên ngoài.  

Nội dung: Quá trình quản trị tài sản thương hiệu, bao gồm 4 phần và 11 bước (1) Viễn cảnh thương hiệu: (2) Bức tranh thương hiệu: (3) Chiến lược quản trị tài sản thương hiệu: (4) Việc hỗ trợ văn hóa quản trị tài sản thương hiệu

Kết quả: thông qua xây dựng viễn cảnh thương hiệu, bức tranh thương hiệu với công cụ chủ yếu dựa vào truyền thông thương hiệu.  

Hạn chế: Không gắn kết với các yếu tố bên trong của tổ chức, phản ánh cốt lõi của thương hiệu. 

1.3. QUAN ĐIỂM VỀ XÂY DỰNG THƯƠNG HIỆU TRONG GIÁO DỤC ĐẠI HỌC 1.3.1. Vai trò của xây dựng thương hiệu trong giáo dục đại học Việt Nam

Ở nước ta có sự dịch chuyển nhận thức từ danh tiếng trường ñại học sang thuật ngữ thương hiệu đại học, nhưng vẫn xem giáo dục đại học là ngành phi lợi nhuận, trong đó các nhà cung ứng giáo dục không theo đuổi lợi nhuận tối đa nhưng vẫn buộc phải cạnh tranh với nhau để nâng cao chất lượng và hiệu quả do đó người học được nhiều cơ hội hơn trong việc lựa chọn trường học. Đây là một sự thay đổi nhận thức quan trọng mà cho đến nay không phải mọi người trong xã hội ta đều dễ dàng chấp nhận. Đã đến lúc các trường ñại học Việt Nam phải bắt đầu quan tâm ñến “thương hiệu”. 1.3.2. Các quan điểm về xây dựng thương hiệu trong giáo dục đại học trên thế giới. [12, tr 86-140] 

Theo Blythe (2006), xây dựng thương hiệu là: ‘Các đỉnh cao của một loạt các hoạt động trên toàn bộ tiếp thị hỗn hợp, dẫn đến hình ảnh thương hiệu đó truyền tải toàn bộ các thông tin đến người tiêu dùng”. Có bốn loại tài sản thường gắn liền với thương hiệu của một tổ chức và có thể được sử dụng như công cụ để phân tích và ñánh giá các thương hiệu của tổ chức: 

Thứ nhất là nhận thức cao về tài sản thương hiệu; 

Thứ hai là sản phẩm đào tạo và chất lượng dịch vụ; 

Yếu tố thứ ba của bản sắc thương hiệu là những gì được biết đến như là lòng trung thành của thương hiệu; Sự liên kết thương hiệu là tài sản thứ tư của bản sắc thương hiệu. Kotler (2005) Cái trụ cột quan trọng của thương hiệu mạnh là hướng đến chất lượng, giá trị tài sản thương hiệu, độ tin cậy và đảm bảo sự thành công của cá nhân và tổ chức. Đây là những yếu tố có được từ liên kết với các tổ chức giáo dục có uy tín cao. Quản trị thương hiệu dựa trên bốn nguyên tắc rộng: (1) tập trung vào chất lượng; (2) duy trì sự quan tâm khách hàng; (3) tiếp tục xây dựng và nâng cao hình ảnh tổ chức ; và (4) duy trì một giao tiếp nhất quán và bền vững. 

1.4. XU HƯỚNG PHÁT TRIỂN VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM VỀ PHÁT TRIỂN THƯƠNG HIỆU CỦA MỘT SỐ TRƯỜNG ĐẠI HỌC

1.4.1 Xu hướng phát triển giáo dục đại học Việt Nam. [24] 

1.4.2. Bài học kinh nghiệm  

– Các đặc trưng của hệ thống giáo dục ĐH Mỹ: Tính phi tập trung; Tính thực tiễn; Tính đại chúng  

– ĐH Suffolk (Boston, Mỹ) liên kết với ĐH Hoa Sen 

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1: 

Chương 1 luận văn văn giải quyết những vấn đề cơ bản sau: 

– Làm rõ cơ sở lý luận về thương hiệu và quản trị thương hiệu nói chung, qua đó vận dụng vào phân tích hoạt động thương hiệu tại trường đại học. Trong phạm vi đề tài, tác giả vận dụng mô hình quản trị tài sản thương hiệu của Scott M.Davis và mô hình BrandAsset Valuator của Young & Rubicam. Mỗi mô hình có những ưu và nhược điểm cũng như hướng tiếp cận khác nhau. Mô hình của Scott M.Davis với hướng tiếp cận đẩy mạnh việc xây dựng thương hiệu thông qua các yếu tố bên ngoài. Mô hình BAV dựa trên nguồn lực hiện tại của doanh nghiệp để đánh giá và thiết lập cách thức tạo dựng một thương hiệu bền vững. Việc vận dụng phù hợp các mô hình xuất phát từ phân tích điều kiện thực tế của nhà trường. 

– Luận văn dựa trên quan điểm của tác giả Felix.maringe và Paul Gibbs về xây dựng thương hiệu trong giáo dục đại học kết hợp với những vấn đề lý luận chung về quản trị thương hiệu làm cơ sở để phân tích thực trạng thương hiệu tại ĐH Duy Tân. 

– Nêu xu hướng phát triển và bài học kinh nghiệm về phát triển thương hiệu của các trường đại học từ đó có định hướng phù hợp khi phân tích thương hiệu tại trường ĐH Duy Tân Những vấn đề trên xác lập cơ sở lý luận làm tiền đề cho việc nghiên cứu ở chương 2 và chương 3.

Ngành quản trị sự kiện và lễ hội được coi là một nghề vô cùng hấp dẫn ở hiện tại. Vì sao vậy?

Việt Nam đang bùng nổ các lễ hội và sự kiện từ cấp làng xã đến cấp quốc gia. Có gần 10.000 lễ hội được tổ chức hàng năm và sẽ còn tăng nhanh trong thời gian tới. Hãy cùng Luận Văn Việt  chuyên viết thuê luận án tiến sĩ tìm câu trả lời trong bài viết này nhé.

Tất tần tật về ngành quản trị sự kiện và lễ hội

1. Ngành quản trị sự kiện là gì?

Xuất phát từ nhu cầu quảng bá sản phẩm, “đánh bóng” thương hiệu cho các doanh nghiệp, nghề tổ chức sự kiện được khai sinh và phát triển với tốc độ nhanh chóng. Các bạn trẻ năng động có thêm lĩnh lực nghề nghiệp hấp dẫn để thể hiện bản lĩnh và tài năng của bản thân!

Ngày nay, những sự kiện như hội nghị khách hàng, ra mắt sản phẩm, lễ khánh thành, động thổ, các cuộc thi lớn hay hội thảo, triển lãm, cưới hỏi, sinh nhật… đang dần trở nên quen thuộc và ngày một gia tăng, cho thấy vai trò quan trọng của nghề tổ chức sự kiện đối với các cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp.

Để có một sự kiện thành công, đáp ứng được yêu cầu của khách hàng, quá trình tổ chức sự kiện phải trải qua rất nhiều “ải”: nghiên cứu thương hiệu, xác định đối tượng mà sự kiện hướng tới, đề ra mục tiêu của sự kiện, phát triển ý tưởng chủ đạo, lập ngân sách và kế hoạch tiến hành, chuẩn bị nhân sự và các yếu tố kỹ thuật nhằm thực hiện chương trình, tổng kết và triển khai các hoạt động hậu kỳ khác giúp kéo dài hiệu ứng của sự kiện đó.

Vai trò của ngành quản trị sự kiện

Lễ hội – sự kiện không còn là lãnh địa riêng của các địa phương mà bên cạnh là hàng nghìn doanh nghiệp lớn nhỏ đang chuyển mình “khao khát” tạo cho mình nhiều hoạt động mang màu sắc lễ hội – sự kiện, nhằm góp phần quảng bá và tiếp thị cho thương hiệu của mình. Lễ hội – Sự kiện đang trở thành vấn đề nóng hổi trong kinh doanh bởi vì lĩnh vực này mang lại siêu lợi nhuận. Ngày càng có nhiều doanh nghiệp kinh doanh sự kiện ra đời. Nhiều doanh nghiệp khác (các tập đoàn, công ty lớn) dù không kinh doanh trong lĩnh vực sự kiện nhưng có nhiều hoạt động liên quan nên cần bổ sung các chuyên viên chuyên nghiệp vào đội ngũ của họ. Thực tế, thị trường hiện đang rất cần một đội ngũ đông đảo những người hoạt động chuyên nghiệp lĩnh vực tổ chức lễ hội và quản trị sự kiện. 

Bức tranh toàn cảnh của hoạt động lễ hội – sự kiện tại Việt Nam đã tạo ra một cơ hội hấp dẫn ở hiện tại và trong tương lai cho các doanh nghiệp kinh doanh lễ hội – sự kiện. Bên cạnh đó, cơ hội cũng mở ra nhiều điều kiện việc làm mới mẻ cho người lao động. Người tham gia hoạt động tổ chức lễ hội – quản trị sự kiện đòi hỏi phải có sự bay bổng của óc sáng tạo, tư duy phong phú và tính thẩm mỹ cao. Kỹ lưỡng đến từng chi tiết nhỏ của công việc. Khả năng quản trị nhóm và điều phối nhịp nhàng công việc hiệu quả cũng là những đức tính cơ bản cần có. Nhìn chung, Tổ chức lễ hội – quản trị sự kiện là một nghề hay và khó nhưng bù lại nghề này dễ kiếm việc làm và có thu nhập cao rất phù hợp với giới trẻ thích khám phá, năng động. 

Tổ chức Lễ hội và Quản trị sự kiện vì sao được quan tâm trong giai đoạn hiện nay?

Tham gia khóa học Tổ chức Lễ hội – Quản trị sự kiện, người học được trang bị những kiến thức lý thuyết cơ bản về lễ hội – sự kiện. Hiểu và phân biệt rõ ràng các loại hình kinh doanh lễ hội – sự kiện. Hiểu được vai trò, tầm quan trọng và ý nghĩa kinh tế của tổ chức lễ hội – quản trị sự kiện. Tham gia thực hành các bài tập nhằm đảm bảo sự thành công các lễ hội – sự kiện có qui mô nhỏ cho đến qui mô hoành tráng. Nội dung cơ bản của khóa học bao gồm: 

Tổng quan về tổ chức lễ hội – sự kiện. Vai trò, tầm quan trọng và ý nghĩa kinh tế của tổ chức lễ hội – sự kiện. Thông qua lễ hội – sự kiện là cách đánh bóng thương hiệu hiệu quả. Tìm hiểu các loại hình sự kiện. Qui trình tổ chức một lễ hội – sự kiện. Tìm ý tưởng và xây dựng kịch bản tổ chức lễ hội – sự kiện. Chuỗi cung ứng cho lễ hội và sự kiện. Qui trình xin cấp phép tổ chức lễ hội – sự kiện. Đi tìm nguồn tài chính cho lễ hội – sự kiện. Nhân lực tổ chức lễ hội và sự kiện. Đảm bảo an toàn, an ninh cho lễ hội và sự kiện…

Tất tần tật về ngành quản trị sự kiện và lễ hội
Tất tần tật về ngành quản trị sự kiện và lễ hội

Học viên dễ dàng xin việc tại các công ty du lịch, các công ty tổ chức kinh doanh sự kiện, các khách sạn, các khu du lịch, trung tâm tiệc cưới, cùng nhiều doanh nghiệp lớn nhỏ khác nhau đều có nhu cầu tổ chức sự kiện cho hoạt động kinh doanh của mình. 

Không quan trọng việc ta đến với nó bằng con đường nào mà quan trọng là ta phải đi như thế nào để đến được cái đích ấy, phải có niềm tin và ước mơ để đến với thành công bằng chính năng lực và sự nỗ lực của bản thân khi ta vẫn còn hoài bão và sức trẻ.

2. Ngành quản trị sự kiện học ở đâu?

– Đại học sân khấu điện ảnh Hà Nội khoa đạo diễn sự kiện, lễ hội (đạo diễn sân khấu) mã ngành 52210227

– Cao đẳng FPT ngành quan hệ công chúng PR, tổ chức sự kiện

– Đại học kinh tế thành phố HCM khoa báo chí truyền thông

– ĐHQG Hà Nội, TPHCM khoa báo chí

– Học viện Báo chí Tuyên truyền

– ĐH Văn Lang ngành Quan hệ công chúng

– Học viện Báo chí Tuyên truyền, các ngành PR

– Đại học văn hoá Hà Nội chuyên ngành tổ chức sự kiện văn hoá (chuyên ngành đạo diễn sự kiện cũ)

– Khoa du lịch trường đại học nhân văn Hà Nội

– Quản trị sự kiện khoa du lịch ĐH KHXH & NV

– Ngành quản trị dịch vụ du lịch và lữ hành khoa du lịch trường ĐH khoa học xã hội nhân văn có chuyên ngành quản trị sự kiện.

– Ngành quan hệ quốc tế ở HUFLIT (trường đại học ngoại ngữ và tin học TPHCM). Xuyên suốt quá trình học sinh viên sẽ được học một vài môn học liên quan đến ngành tổ chức sự kiện và còn phải tổ chức một vài sự kiện ở trường như là điều kiện để tốt nghiệp.

– Chuyên ngành kinh doanh thể thao và tổ chức sự kiện đại học Tôn Đức Thắng TDTU.

3. Chuyên viên tổ chức sự kiện cần có những tố chất nào?

Tỉ mỉ, cẩn trọng là đòi hỏi tối quan trọng ở một chuyên viên tổ chức sự kiện. Có thể ví công việc tổ chức sự kiện là một bức tranh đa màu sắc và người tiến hành chỉ có thể trở thành “họa sĩ” thành công khi hoàn chỉnh bức tranh đó bằng vô số những chi tiết, mảng màu.

Nghề này cũng yêu cầu các bạn có sức khỏe tốt, chịu vất vả, áp lực trong việc chạy đua với thời gian nhằm đảm bảo tiến độ chương trình, đáp ứng được đòi hỏi khắt khe của các “thượng đế”.

Đặc biệt, một chuyên viên tổ chức sự kiện giỏi chắc chắn không thể thiếu những tố chất như: tư duy sáng tạo, tổ chức công việc khoa học, năng động, nhanh nhẹn, có khả năng giao tiếp, làm việc nhóm và thiết lập mối quan hệ tốt.

Xuyên suốt sự kiện, người tổ chức phải biết cách xoay sở và ứng phó trong mọi tình huống. Khó khăn, trở ngại không cho phép người tổ chức sự kiện chùn bước, bởi đó là những con người sống với nghề bằng sự yêu thíchniềm đam mê mãnh liệt!

Theo ông Trần Anh Tuấn, Phó Giám đốc trung tâm Dự báo nhu cầu nhân lực và thông tin thị trường lao động TP.HCM: “Nghề tổ chức sự kiện nằm trong nhóm ngành quản trị kinh doanh kết hợp với truyền thông, quan hệ công chúng, marketing… Các cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp ngày nay có nhu cầu rất cao trong việc quảng bá thương hiệu, sản phẩm nên nghề này đang rất phát triển”.

Nếu nuôi nguyện vọng định vị tương lai với nghề này, các bạn trẻ có thể chọn học tại những trường đại học có đào tạo chuyên ngành tổ chức sự kiện thuộc các ngành Marketing, Quản trị công nghệ truyền thông, Quan hệ công chúng… như Đại học Kinh tế Tài chính TP.HCM (UEF), Học viện Báo chí và Tuyên truyền, Đại học Khoa học Xã hội và Nhân Văn,…

Nguồn: luanvanquantri.com

Mẫu luận văn ngành quản trị marketing

Ngành quản trị marketing là gì? Theo Hiệp hội Marketing Hoa Kỳ (1985), quản trị marketing là quá trình lập và thực hiện kế hoạch, định giá, khuyến mãi và phân phối sản phẩm, dịch vụ và ý tưởng để tạo ra sự trao đổi, thỏa mãn những mục tiêu của khách hàng và tổ chức.

Nếu bạn chuẩn bị làm luận văn ngành quản trị marketing,Hãy cùng Luận Văn Việt  chuyên làm chuyên đề tốt nghiệp thuê xem ngay bài luận văn mẫu dưới đây.

Mẫu luận văn ngành quản trị marketing
Mẫu luận văn ngành quản trị marketing

1. Khái niệm về quản trị marketing

1.1. Khái niệm về quản trị

Quản trị đã có lịch sử khá lâu đời trong nền văn minh nhân loại và ngày càng được khái quát hóa thành những lý thuyết có tính khoa học cao. Thuật ngữ quản trị được hiểu là quá trình điều phối các công việc để chúng có thể được hoàn thành với hiệu suất và hiệu quả cao nhất, bằng và thông qua những người khác.

Quản trị là quá trình làm việc với và thông qua những người khác để thực hiện các mục tiêu của tổ chức trong một môi trường luôn biến động. Trọng tâm của quá trình quản trị là sự cân bằng giữa kết quả và hiệu quả của việc sử dụng các nguồn tài nguyên hạn chế. [7, tr 8] 

Có 4 giai đoạn chính trong hoạt động quản trị là giai đoạn hoạch định, giai đoạn tổ chức, giai đoạn chỉ huy / lãnh đạo và giai đoạn kiểm soát. 

Hoạch định: Hoạch định là quá trình xác định các mục tiêu và mục đích mà tổ chức phải hoàn thành trong tương lai và quyết định về cách thức để đạt được mục tiêu đó. Hoạch định bao gồm 3 giai đoạn: (i) Thiết lập các mục tiêu (phương hướng) cho tổ chức như tăng trưởng doanh thu, thị phần, tỷ suất lợi nhuận…, (ii) Xác định các nguồn lực của tổ chức có thể sử dụng để đạt được mục tiêu đó, (iii) Quyết định về những hoạt động cần thiết để đạt được mục tiêu đã đề ra. 

Tổ chức: Tổ chức là quá trình tạo ra một cơ cấu các mối quan hệ giữa các thành viên trong tổ chức, thông qua đó cho phép các thành viên thực hiện các kế hoạch và hoàn thành các mục tiêu chung của tổ chức. Tổ chức hoạt động hiệu quả giúp nhà quản trị có thể phối hợp tốt hơn các nguồn lực của tổ chức. Quá trình tổ chức bao gồm thiết lập các bộ phận, phòng ban chức năng, xây dựng các bản mô tả công việc, tuyển dụng, bổ nhiệm nhân sự, huấn luyện, phát triển nguồn nhân lực để các thành viên của tổ chức có thể đóng góp những nỗ lực của họ vào thành công chung của tổ chức, truyền thông tin, chỉ thị, mệnh lệnh đến các thành viên trong tổ chức và nhận thông tin phản hồi. thúc đẩy động viên nhân viên theo đuổi các mục tiêu đã lựa chọn bằng cách thỏa mãn các nhu cầu và đáp ứng những kỳ vọng của họ thông qua các giá trị vật chất và tinh thần. 

Chỉ huy (giai đoạn thực hiện chức năng lãnh đạo): Chỉ huy là việc đưa ra các mệnh lệnh, truyền đạt thông tin đến mọi người, động viên, thúc đẩy họ hoàn thành những nhiệm vụ cần thiết để thực hiện mục tiêu của tổ chức. 

Kiểm soát: Kiểm soát là quá trình giám sát chủ động một công việc hay một tổ chức thực hiện nhiệm vụ và tiến hành những hoạt động điều chỉnh cần thiết. Để đảm bảo cho tổ chức luôn đi đúng theo mục tiêu đã lựa chọn, quá trình kiểm soát phải được thực hiện, điều chỉnh liên tục, nhà quản trị thiết lập tiêu chuẩn công việc, đo lường mức độ hoàn thành công việc so với các tiêu chuẩn đã đề ra, so sánh giữa kết quả và hiệu quả, áp dụng các biện pháp điều chỉnh hợp lý nếu tổ chức không đạt được kết quả với mức chi phí cần thiết, hoặc có sự sai lệch so với tiêu chuẩn, và điều chỉnh các tiêu chuẩn nếu cần thiết. Hệ thống kiểm soát phải liên tục gửi các tín hiệu cho các nhà quản trị về những điểm không phù hợp với các tiêu chuẩn đã được hoạch định để kịp thời điều chỉnh các điểm sai lệch đó.

Mẫu luận văn ngành quản trị marketing
Mẫu luận văn ngành quản trị marketing

1.2. Khái niệm về quản trị marketing

Để thực hiện những quá trình trao đổi đòi hỏi phải tốn rất nhiều công sức và có trình độ nghiệp vụ chuyên môn. Quản trị Marketing xuất hiện khi ít nhất có một bên trong vụ trao đổi tiềm ẩn những suy tính về những mục tiêu và phương tiện để đạt được những phản ức mong muốn từ phía bên kia. Năm 1985, hiệp hội Marketing Mỹ đưa ra khái niệm về quản trị Marketing như sau: Quản trị Marketing là quá trình lập kế hoạch, và thực hiện kế hoạch đó, định giá, khuyến mãi và phân phối hàng hóa, dịch vụ và ý tưởng để tạo ra sự trao đổi với các nhóm mục tiêu, thỏa mãn những mục tiêu của khách hàng và tổ chức [5] 

Khái niệm về quản trị Marketing của Philip Kotler được cho là khá đầy đủ, theo ông thì: “Quản trị Marketing là phân tích, lập kế hoạch, thực hiện và kiểm tra việc thi hành các biện pháp nhằm thiết lập, củng cố và duy trì những cuộc trao đổi có lợi với những người mua đã được lựa chọn để đạt được những mục tiêu đã định của doanh nghiệp”. [4].

2. Vai trò của quản trị marketing trong doanh nghiệp

Doanh nghiệp là một chủ thể kinh doanh, một cơ thể sống của đời sống kinh tế. Cơ thể đó cần có sự trao đổi chất với môi trường bên ngoài – thị trường. Quá trình trao đổi chất đó diễn ra càng thường xuyên, liên tục, với quy mô càng lớn thì cơ thể đó càng khoẻ mạnh, ngược lại, sự trao đổi đó diễn ra yếu ớt thì có thể quặt quẹo và chết yểu. 

Ngày nay, các doanh nghiệp phải hoạt động trong một môi trường cạnh tranh quyết liệt và có những thay đổi nhanh chóng về khoa học – công nghệ, những đạo luật mới, những chính sách quản lý thương mại mới và sự trung thành của khách hàng ngày càng giảm do các hoạt động thu hút khách hàng mạnh mẽ của các đối thủ cạnh tranh. Các công ty đang phải chạy đua với nhau trên một tuyến đường với những biển bảo và luật lệ luôn thay đổi, không có tuyến đích, không có chiến thắng vĩnh cửu. Họ buộc phải không ngừng chạy đua và hy vọng là mình đang chạy theo đúng hướng. 

Các hoạt động chức năng của một doanh nghiệp nói chung bao gồm : sản xuất, tài chính, quản trị nhân lực… Nhưng trong nền kinh tế thị trường, chức năng quản lý sản xuất, quản lý tài chính, quản lý nhân sự chưa đủ đảm bảo cho doanh nghiệp tồn tại, và không đảm bảo cho sự thành đạt của doanh nghiệp nếu tách rời chúng khỏi một chức năng khác – chức năng kết nối mọi hoạt động của doanh nghiệp với thị trường. Chức năng này thuộc một lĩnh vực quản lý khác – quản trị Marketing. 

Marketing và quản trị Marketing đã kết nối các hoạt động sản xuất của doanh nghiệp với thị trường, có nghĩa là đảm bảo cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp hướng theo thị trường, biết lấy thị trường – nhu cầu và ước muốn của khách hàng làm chỗ dựa vững chắc cho mọi quyết định kinh doanh. 

Xét về mối quan hệ giữa công tác quản trị Marketing với các bộ phận khác thì quản trị Marketing vừa chi phối vừa bị chi phối bởi các chức năng khác. Nói cách khác, khi xác định chiến lược Marketing, đề ra các mục tiêu chiến lược, chẳng hạn như dẫn đầu về chất lượng một loại sản phẩm nào đó, để thu hút những khách hàng có thu nhập cao, khi đó để tránh rơi vào mơ tưởng, thì công ty buộc phải cân nhắc xem khả năng vốn liếng như thế nào, công nghệ và kỹ thuật ra sao, trình độ tay nghề của công nhân có đáp ứng được yêu cầu hay không. 

Mặc dù mục tiêu cơ bản của mọi công ty là thu lợi nhuận, nhiệm vụ cơ bản của hệ thống Marketing là đảm bảo sản xuất và cung cấp những mặt hàng hấp dẫn có sức cạnh tranh cao cho các thị trường mục tiêu. Nhưng sự thành công của chiến lược và sách lược Marketing còn phụ thuộc vào sự vận hành của các chức năng khác trong công ty. Ngược lại, các hoạt động chức năng khác nếu không vì những mục tiêu của hoạt động Marketing, thông qua các chiến lược cụ thể, để nhằm vào những khách hàng- thị trường cụ thể thì những hoạt động đó sẽ trở nên mò mẫm và mất phương hướng. 

Đó là mối quan hệ hai mặt vừa thể hiện tính thống nhất, vừa thể hiện tính độc lập giữa chức năng Marketing với các chức năng khác của một công ty hướng theo thị trường. Giữa chúng có mối liên hệ với nhau, nhưng hoàn toàn không thể thay thế cho nhau. Điều mà lâu nay nhiều nhà quản trị doanh nghiệp thường lầm lẫn là họ tưởng rằng chỉ cần giao một vài hoạt động như: tạo ra sản phẩm có chất lượng cao hơn cho phòng kỹ thuật, phòng tiêu thụ áp dụng những biện pháp bán hàng mới, giao cho phòng kinh doanh quy định giá bán và quảng cáo sản phẩm là đã bao hàm đầy đủ nội dung của hoạt động Marketing và là yếu tố đảm bảo cho công ty biết hướng theo thị trường. Tất nhiên so với thời kỳ trước đổi mới, sự thay đổi như vậy đã là bước tiến đáng kể trong nội dung quản trị doanh nghiệp, nhưng nó chưa thể hiện một cách hoàn chỉnh nội dung quản lý của các doanh nghiệp biết hướng theo thị trường.

3. Quy trình quản trị marketing trong doanh nghiệp

3.1. Phân tích môi trường marketing

Môi trường Marketing là tổng hợp tất cả các yếu tố, những lực lượng bên trong và bên ngoài doanh nghiệp có ảnh hưởng tích cực hoặc tiêu cực đến hoạt động hoặc các quyết định của bộ phận Marketing trong doanh nghiệp, đến khả năng thiết lập hoặc duy trì mối quan hệ giữa doanh nghiệp với khách hàng [1]. 

Tác động của môi trường Marketing ảnh hưởng sâu sắc và mạnh mẽ tới doanh nghiệp, bao gồm cả ảnh hưởng tốt và xấu tới kinh doanh. Môi trường không chỉ có những thay đổi, những diễn biến từ từ và dễ dàng phát hiện và dự báo mà nó còn luôn tiềm ẩn những biến động khôn lường, thậm chí những cú sốc. Như vậy, môi trường Marketing tạo ra cả những cơ hội thuận lợi và cả những sức ép, sự đe doạ cho tất cả các nhà kinh doanh. Điều căn bản là họ phải sử dụng các công cụ nghiên cứu Marketing, các hệ thống Marketing ra sao để theo dõi, nắm bắt và xử lý nhạy bén các quyết định Marketing nhằm thích ứng với những thay đổi từ phía môi trường.

Môi trường Marketing là tập hợp của môi trường Marketing vi mô và môi trường Marketing vĩ mô. Môi trường Marketing vi mô bao gồm các yếu tố liên quan chặt chẽ đến doanh nghiệp và nó ảnh hưởng đến khả năng của doanh nghiệp khi phục vụ khách hàng[1]. Đó là các nhân tố nội tại của Công ty, các kênh Marketing, thị trường khách hàng, đối thủ cạnh tranh, nhà cung cấp, các tổ chức trung gian v.v… Trong một chừng mực nhất định, doanh nghiệp có thể tác động để cải thiện môi trường Marketing vi mô. 

Môi trường Marketing vĩ mô bao gồm các yếu tố, các lực lượng mang tính chất xã hội rộng lớn, chúng có tác động ảnh hưởng tới toàn bộ môi trường Marketing vi mô và tới các quyết định Marketing của doanh nghiệp [1]. Môi trường Marketing vĩ mô tập hợp tất cả các yếu tố mà từng doanh nghiệp không thể kiểm soát và thay đổi được. Đó là những yếu tố thuộc về nhân khẩu học, kinh tế, tự nhiên, kỹ thuật – công nghệ, chính trị – pháp luật, đạo đức và văn hoá v.v…

3.2. Lựa chọn thị trường mục tiêu và định vị thị trường

Thị trường là tập hợp các cá nhân và tổ chức thực hiện đang có nhu cầu mua và có nhu cầu đòi hỏi cần được thỏa mãn [4]. Để tiến hành các hoạt động Marketing được hiệu quả, các nhà quản trị Marketing cần phải tiến hành phân chia thị trường ra thành những bộ phần người tiêu dùng theo một số tiêu chuẩn nào đó trên cơ sở những quan điểm khác biệt về nhu cầu, ví dụ phân chia theo lứa tuổi, theo giới tính, theo thu nhập, theo nghề nghiệp, theo nơi cư trú v.v… qua đó, các nhà quản trị Marketing sẽ phân tích, đánh giá và lựa chọn ra khúc thị trường mục tiêu cho doanh nghiệp, từ đó có thể thiết lập và hoạch định những chiến lược Marketing cho từng khúc thị trường mục tiêu đó một cách phù hợp.

3.3. Thiết lập chiến lược và lập kế hoạch marketing 

Theo tập đoàn tư vấn Boston, ”Chiến lược kinh doanh là những xác định sự phân bổ nguồn lực sẵn có với mục đích làm thay đổi thế cần bằng cạnh tranh và chuyển lợi thế về phía mình” [2], còn theo Michael Porter – giáo sư chiến lược hàng đầu của Havard thì ”Chiến lược kinh doanh để đương đầu với cạnh tranh là sự kết hợp giữa những mục tiêu cần đạt tới và những phương tiện mà doanh nghiệp cần tìm để đạt tới mục tiêu” [2]. 

Thiết lập chiến lược và lập kế hoạch Marketing giúp các nhà quản trị suy nghĩ một cách có hệ thống, đòi hỏi phải phối hợp các nỗ lực của doanh nghiệp một cách chủ động và hoàn hảo hơn, làm cho toàn doanh nghiệp luôn thấy rõ các mục tiêu chủ đạo và các chính sách để đạt được mục tiêu và chủ động đối phó với những đột biến. Lập chiến lược và kế hoạch Marketing của doanh nghiệp bao gồm 2 công đoạn: xây dựng chiến lược kinh doanh theo quan điểm Marketing và lập kế hoạch Marketing.

3.4. Hoạch định các chương trình marketing 

Trên cơ sở phân đoạn thị trường, xác định mục tiêu và định vị nói trên, doanh nghiệp phát triển các chiến thuật marketing mix bao gồm các quyết định liên quan đến 4P như sản phẩm, giá cả, phân phối. Các hoạt động Marketing mix được gọi là Marketing chiến thuật, bao gồm việc hoạch định một bộ công cụ Marketing mix được sử dụng nhằm mục đích hỗ trợ và định vị đúng sản phẩm. Các công cụ marketing mix phổ biến nhất hiện nay là 4 P. 4 P gồm có: Sản phẩm (Product), Giá (Price), Xúc tiến bán (Promotion) và Phân phối (placement)

3.5. Tổ chức thực hiện và kiểm tra marketing

Sau khi đã thực hiện các bước lập kế hoạch và chiến lược Marketing nêu trên, doanh nghiệp bắt đầu thực hiện sản xuất sản phẩm/dịch vụ, định giá, phân phối và xúc tiến bán sản phẩm/dịch vụ đó. Trong giai đoạn này, tất cả các bộ phận của công ty đều phải tham gia vào hoạt động: nghiên cứu, mua hàng, sản xuất, marketing và bán hàng, nhân sự, hậu cần (vận tải, kho bãi), tài chính, kế toán. 

Trong giai đoạn này, có thể phát sinh rất nhiều vấn đề trong quá trình thực hiện, thậm chí mâu thuẫn giữa các bộ phận trong doanh nghiệp, sản phẩm khó có thể sản xuất được do những giới hạn về mặt kỹ thuật, năng lực…, giá đầu vào quá cao hoặc khó sản xuất hàng loạt sản phẩm với chất lượng đồng nhất… Thông thường, bộ phận bán hàng và marketing là thường gặp khó khăn trong giai đoạn thực hiện này nhất. Phần lớn các chiến thuật marketing là đúng, nhưng khi thực hiện thực tế lại thất bại. Thất bại có thể do lực lượng bán hàng của công ty không được tập huấn tốt, chưa hiểu rõ về các điểm đặc biệt của sản phẩm, giá của sản phẩm, quảng cáo tồi, không cung cấp được dịch vụ như doanh nghiệp đã cam kết. v.v. Mặt khác, các công tác quản trị sản xuất, bán hàng và chăm sóc khách hàng sau bán còn chưa được gắn kết tốt với nhau. Để thành công ở giai đoạn này, cần phải có mối liên kết bền vững, liền mạch giữa tất cả các bộ phận chức năng có liên quan tới khách hàng, và marketing chính là mối liên kết đó. Theo quan điểm hiện đại, khách hàng phải giữ chức năng khống chế, còn marketing phải giữ chức năng hợp nhất. 

Kiểm tra nỗ lực marketing là bước cuối cùng trong quy trình quản trị marketing tại doanh nghiệp. Các doanh nghiệp thành công là các doanh nghiệp biết học hỏi từ thành công cũng như sai lầm của chính doanh nghiệp của mình và các doanh nghiệp khác. Trong bước này, doanh nghiệp cần thu thập thông tin phản hồi từ thị trường, xem xét và đánh giá các kết quả thu nhận được, đồng thời tiến hành các bước cải tiến, sửa chữa các sai lầm để hoàn thiện hơn các hoạt động của mình. Trong bước này, công ty có thể nhận thấy sai lầm nằm trong bước thực hiện chiến thuật marketing mix 4P hoặc ngay trong bước phân đoạn thị trường, xác định phân đoạn mục tiêu và định vị. Một khi không có bước kiểm tra này, công ty sẽ không bao giờ có thể nhận diện và sửa chữa các sai lầm được. Việc kiểm tra thường được thực hiện theo 3 cách: Kiểm tra kế hoạch năm, kiểm tra khả năng sinh lời, kiểm tra chiến lược.

Từ khóa liên quan: ngành quản trị marketing thi khối nào

Tổng hợp những điều cần biết về ngành quản trị mạng máy tính

Ngành quản trị mạng cần học những gì? Thu nhập trung bình của công việc này là bao nhiêu? Các kỹ năng cần có để trở thành một người quản trị mạng chuyên nghiệp là gì? Học ngành quản trị mạng máy tính ở đâu? Tất cả sẽ được Luận Văn Việt chuyên giá thuê viết luận văn thạc sĩ giải đáp trong bài viết này.

Tổng hợp những điều cần biết về ngành quản trị mạng máy tính
Tổng hợp những điều cần biết về ngành quản trị mạng máy tính

1. Ngành quản trị mạng là gì?

Hiện nay các ngành công nghiệp trên toàn thế giới đều sử dụng mạng máy tính để phục vụ cho việc kinh doanh của họ. Và các mạng máy tính đó cần một người quản trị viên có thể tiếp cận và xử lý các sự cố của máy tính. Điều này có nghĩa là: Trong ngắn hạn, nếu bạn đang tìm cách để thâm nhập vào một ngành công nghiệp có tiềm năng tăng trưởng dài hạn, thì quản trị mạng là một lựa chọn đáng cân nhắc.

Quản trị mạng được định nghĩa là các công việc quản trị mạng lưới bao gồm cung cấp các dịch vụ hỗ trợ, đảm bảo mạng lưới hoạt động hiệu quả, đảm bảo mạng lưới cung cấp đúng chỉ tiêu định ra.

2. Ngành quản trị mạng máy tính làm gì?

  • Cấu hình và duy trì mạng máy tính nội bộ của công ty.
  • Quản lý các công cụ bảo mật mạng, ví dụ như tường lửa, hệ thống diệt virus và phát hiện xâm nhập.
  • Xác định, khắc phục sự cố, giải quyết và ghi lại các vấn đề kết nối và hiệu suất mạng.
  • Cài đặt và hỗ trợ điện thoại đường dây cứng và các thiết bị viễn thông nối mạng khác.
  • Giám sát hiệu suất mạng và tối ưu hóa mạng để có tốc độ và tính sẵn sàng tối ưu.
  • Cài đặt, cấu hình và duy trì phần cứng mạng, ví dụ, router và chuyển mạch Cisco.
  • Triển khai, cấu hình và nâng cấp phần mềm mạng, chẳng hạn như chương trình chuẩn đoán hoặc diệt virus doanh nghiệp.
  • Triển khai và duy trì các hệ thống sao lưu và khôi phục khẩn cấp cho các máy chủ mạng quan trọng.
  • Quản trị viên mạng có nhiệm vụ điều chỉnh quyền truy cập của người dùng vào các file nhạy cảm để bảo vệ chống lại vi phạm an ninh nội bộ.
  • Trong các công ty nhỏ hơn, quản trị viên mạng thường chịu trách nhiệm về hỗ trợ máy tính để bàn của người dùng cuối và bảo trì máy chủ cũng như các thiết bị được kết nối mạng khác.
Tổng hợp những điều cần biết về ngành quản trị mạng máy tính
Tổng hợp những điều cần biết về ngành quản trị mạng máy tính

3. Các kỹ năng cần có để trở thành người làm quản trị mạng 

Nếu muốn nổi bật trong ngành Công nghệ thông tin, thông thường bạn sẽ cần giỏi khá nhiều kỹ năng. Nhưng vị trí quản trị mạng không đòi hỏi nhiều như vậy, bạn chỉ cần nằm được những kỹ năng cơ bản và giỏi nghiệp vụ là được. Bên cạnh các kỹ năng cứng thì kỹ năng mềm cũng khá quan trọng khi thực hiện các công việc hàng ngày.

Kỹ năng cứng cần có của một quản trị viên mạng:

  • Quản trị hệ thống
  • Linux và Unix
  • Cấu hình mạng (đôi khi còn cần cả bấm dây mạng), cấu hình hệ thống
  • Hỗ trợ kỹ thuật
  • Cài đặt phần mềm
  • Cisco
  • Tường lửa

Kỹ năng mềm cần có của quản trị viên mạng:

  • Giải quyết sự cố
  • Kỹ năng giao tiếp
  • Kỹ năng tổ chức, sắp xếp
  • Kỹ năng lên kế hoạch
  • Nghiên cứu
  • Quản trị dự án
  • Dịch vụ khách hàng

4. Thu nhập của người quản trị mạng

Có vai trò quan trọng và nhu cầu tuyển dụng cao, thu nhập của nghề quản trị mạng rất hấp dẫn. Nghề quản trị mạng cũng có nhiều “ngạch” nhỏ, mỗi “ngạch” lại có mức thu nhập khác nhau tùy thuộc vào vị trí, tính chất công việc và quy mô công ty.

Nhìn chung, mức lương cho một quản trị viên “đơn ngạch”, chưa có kinh nghiệm vào khoảng 7 triệu đồng/tháng. Còn đối với những quản trị viên nhiều kinh nghiệm, có khả năng thiết lập server, quản lý được luôn NT/Samba Domain, thi công LAN-WAN, quản lý bảo mật… thì mức lương có thể lên tới vài ngàn USD mỗi tháng.

Cụ thể:

  • Quản trị mạng: 69.000 USD
  • Quản lý mạng: 73.000 USD
  • Quản trị mạng Cisco: 80.000 USD
  • Thiết kế mạng: 81.000 USD
  • Kỹ sư mạng: 86.000 USD
  • Kỹ sư mạng Cisco: 88.000 USD
  • Quản trị bảo mật mạng: 89.00USD
  • Chuyên gia bảo trì mạng: 90.000 USD
  • Kiến trúc sư mạng: 105.000 USD
  • Kiến trúc sư mạng Cisco: 109.000 USD
  • Kỹ sư mạng Cisco CCIE: 114.000 USD

5. Học ngành quản trị mạng máy tính ở đâu?

Danh sách các trường đại học tại Việt Nam có đào tạo ngành Quản trị mạng tốt nhất:

  • Đại học Bách khoa Hà Nội
  • Đại học Công nghệ Hà Nội
  • Đại học Mỏ – Địa chất
  • Đại học Công nghệ Việt Hung
  • Đại học FPT
  • Đại học Thành Tây
  • Đại học Bách khoa Đà Nẵng
  • Đại học Bách khoa Hồ Chí Minh
Tìm hiểu về ngành quản trị luật

Ngành quản trị luật có lẽ là chuyên ngành xa lạ đối với rất nhiều sinh viên theo học luật học. Tuy nhiên, đây là chuyên ngành rất hấp dẫn, giúp sinh viên tăng cơ hội việc làm lên gấp 02 lần so với các chuyên ngành luật thông thường. Hãy cùng Luận Văn Việt  chuyên làm luận văn tốt nghiệp đại học tìm hiểu vềngành quản trị luật.

 Tìm hiểu về ngành quản trị luật
Tìm hiểu về ngành quản trị luật

1. Ngành quản trị luật là gì?

Khi học ngành này, bạn sẽ được học 2 mảng cùng lúc đó là: Quản trị và Luật học.

2. Ngành quản trị luật và ngành luật có gì khác nhau?

Tiến sĩ Ngô Hữu Phước, Phó khoa Luật quốc tế, Trường ĐH Luật TP.HCM: Nếu ngành luật chỉ đào tạo theo các chuyên ngành luật thương mại, luật dân sự, luật hình sự, luật hành chính – nhà nước và luật quốc tế thì ngành quản trị – luật sẽ đào tạo cả hai lĩnh vực quản trị và luật.

Ngành luật có thời gian đào tạo là 4 năm còn quản trị – luật có thời gian đào tạo là 5 năm. Khi tốt nghiệp ngành luật, sinh viên sẽ được cấp 1 bằng cử nhân luật, còn ngành quản trị – luật sinh viên sẽ được cấp 2 bằng cử nhân quản trị và cử nhân luật.

Học quản trị – luật, sinh viên có thể làm việc trong hệ thống các cơ quan nhà nước như: tòa án, kiểm sát, công an (an ninh, cảnh sát), quân đội (các toà án quân sự, viện kiểm sát quân sự), kiểm lâm, thuế, ngân hàng, Ủy ban nhân dân, Hội đồng nhân dân… hoặc giảng dạy pháp luật tại các ĐH, CĐ, trung cấp… Hoặc làm việc tại các công ty, doanh nghiệp trong nước, công ty, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài hoặc làm việc trong các phòng công chứng, thừa phát lại hoặc hành nghề luật sư…

Tìm hiểu về ngành quản trị luật

3. Những điều cần biết về quản trị luật

Nếu đưa ra định nghĩa quản trị luật là gì thì rất nhiều bạn chưa hình dung được khái niệm trừu tượng này. Tuy nhiên, các bạn có thể hiểu ngành quản trị luật được chia ra làm 2 mảng là quản trị và luật.

Chính vì lẽ đó, các sinh viên theo học ngành này sẽ được học 2 mảng chính là quản trị và luật học. Khi ra trường, các sinh viên sẽ được cấp 2 bằng đại học đó là cử nhân luật và cử nhân quản trị, thời gian học cũng kéo dài thêm 1 năm so với các sinh viên cử nhân luật.

4. Học quản trị luật ở đâu?

Đây có lẽ là câu hỏi khiến rất nhiều các bậc phụ huynh lẫn các bạn sinh viên tò mò. Nếu thực sự đam mê ngành học này, các bạn có thể tìm đến các trường như Đại học Luật Hà Nội, Đại học Quốc gia Hà Nội, Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh.

Bởi vì đây là ngành học mới, vì vậy khi chọn lựa, các bạn sinh viên nên chọn những trường đại học có uy tín, chuyên đào tạo về luật sẽ an toàn hơn.

5. Bạn có thể làm gì sau khi ra trường?

Sau khi tốt nghiệp, nhận bằng cử nhân, không ít sinh viên băn khoăn rằng học quản trị luật ra làm gì? Với lượng kiến thức nhiều hơn các chuyên ngành khác, thời gian học lâu hơn thì cơ hội nghề nghiệp của ngành này cao hơn bình thường cũng không có gì đáng ngạc nhiên.

Nói đến cơ hội việc làm cho sinh viên sau khi ra trường, có thể khẳng định rằng tỷ lệ tìm được việc làm tốt của sinh viên ngành này cao gấp 2 lần thông thường.

Bên cạnh công việc luật sư mà rất nhiều bạn mong muốn thì học quản trị luật còn giúp các bạn sinh viên có thể làm việc trong tòa án. Một số bạn có thể đăng ký làm trong quân đội, các cơ quan nhà nước như ủy ban nhân dân, hội đồng nhân dân.

Làm việc trong ngân hàng, cục thuế cũng là một trong những lựa chọn mà sinh viên quản trị luật có thể theo đuổi.

Như đã thấy, đối với những sinh viên học quản trị luật, cơ hội dành cho các bạn là rất nhiều. Mong rằng tất cả các bạn có thể tự lựa chọn cho mình một công việc phù hợp với sở thích và ngành học của mình nhé!

Nguồn: luanvanquantri.com

Những điều cần biết về ngành quản trị khách sạn

Ngành quản trị khách sạn là gì? Thi khối nào? Sau khi ra trường bạn sẽ có thể làm công việc gì với kiến thức từ ngành này trên giảng đường? Có yêu cầu gì khi làm công việc quản trị khách sạn trong thực tế? Hãy cùng Luận Văn Việt  chuyên giá thuê viết luận văn Uy tín tìm câu trả lời trong bài viết dưới đây nhé.

 Những điều cần biết về ngành quản trị khách sạn
Những điều cần biết về ngành quản trị khách sạn

1. Ngành quản trị khách sạn là gì?

Ngành quản trị khách sạn là ngành gì? Quản trị khách sạn được hiểu một cách đơn giản là ngành học chuyên đào tạo, cung cấp kiến thức liên quan đến ngành quản trị khách sạn. Quản trị khách sạn là các công việc liên quan đến quản lý, tổ chức các hoạt động của khách sạn hiệu quả, hợp lý.

Những người quản lý khách sạn phải thường xuyên lập các báo cáo công việc, tài chính, các bản thu, bản chi. Lập ra các nguyên tắc làm việc cho nhân viên trong nhiệm vụ quản lý nhân sự, quản lý số phòng khách thuê và số phòng còn trống,…

Những người có tính cách nhạy bén, linh hoạt, có tính cách hướng ngoại, có khả năng giao tiếp cũng như xử lý tình huống tốt. Biết cách nắm bắt tâm lý khách hàng, đặc biệt lòng yêu nghề sự nhiệt huyết trong công việc sẽ rất phù hợp với ngành học này.

2. Ngành quản trị khách sạn ra trường làm gì?

Sinh viên học ngành quản trị khách sạn nhà hàng, sau khi tốt nghiệp ra trường có thể làm nộp hồ sơ, ứng tuyển các vị trí công việc như: Trở thành chuyên viên kinh doanh tại các nhà hàng, chuyên viên phát triển du lịch, hướng dẫn viên du lịch, quản lý, trưởng bộ phận điều phối nhân sự, lập kế hoạch, hay giám đốc điều hành khách sạn, công ty du lịch, giảng viên ngành quản trị du lịch,..

Làm việc tại các công ty du lịch, doanh nghiệp làm về du lịch, các khách sạn, khu nghỉ dưỡng, Resort, các tổ chức sự kiện, truyền thông, giảng viên tại các trường đại học, cao đẳng, trung cấp đào tạo ngành quản trị khách sạn. Hay làm việc tại các cơ sở ban, ngành,..ở bộ phận du lịch.

Ngành quản trị nhà hàng khách sạn được đánh giá là một trong những ngành hot và được nhiều thí sinh đăng ký xét tuyển. Bởi hiện nay, ngành quản trị khách sạn là một trong những ngành có cơ hội việc làm lớn, mức lương lý tưởng,..

Khi đất nước đang trong thời kỳ phát triển, hội nhập nền kinh tế quốc tế đã mở ra hàng nghìn cơ hội việc làm cho nhiều ngành, trong đó có ngành quản trị khách sạn.

Hằng năm, nước ta đón hàng triệu lượt khách du lịch quốc tế cũng như khách du lịch trong nước. Nhu cầu du lịch ngày càng tăng cao, tạo lợi thế cho ngành khách sạn phát triển, hàng trăm công  ty du lịch, các khách sạn mọc lên. Điều này đã mở ra cơ hội việc làm cho sinh viên học ngành quản trị khách sạn.

Sự phát triển ngành du lịch – khách sạn, đã đòi hỏi một nguồn nhân lực lớn từ ngành quản trị khách sạn. Chính vì vậy, ngành quản trị khách sạn trở thành một trong những cái tên “hot” nhất hiện nay.

 Những điều cần biết về ngành quản trị khách sạn
Những điều cần biết về ngành quản trị khách sạn

3. Ngành quản trị khách sạn yêu cầu những gì?

Lòng Yêu Thích Chăm Sóc Người Khác

Quản trị khách sạn là ngành dịch vụ và hướng tới mục tiêu thỏa mãn nhu cầu của con người. Vì thế, bạn trẻ chọn theo đuổi ngành này bắt buộc phải có đam mê với việc phục vụ, chăm sóc con người. Nói cụ thể hơn, bạn phải tìm thấy niềm vui thích khi được chăm lo miếng ăn, giấc ngủ người khác, cảm thấy hạnh phúc khi cảm nhận sự hài lòng nơi khách hàng.

Ngoài ra, đây còn là một nghề vô cùng áp lực. Hàng ngày, bạn sẽ phải phục vụ hàng trăm khách đủ mọi độ tuổi, giới tính, sắc tộc với tính cách, cung bậc cảm xúc vô cùng đa dạng. Có khách dễ chịu nhưng cũng có khách rất khó tính Vì thế, làm trong ngành này, bạn phải đam mê chăm sóc con người và có sức chịu đựng thì mới trụ vững với nghề.

Ngoại Hình Sáng Sủa

Quản trị Khách sạn đòi hỏi một số tiêu chí nhất định về ngoại hình, điển hình là đồng phục đúng chuẩn, tác phong lịch thiệp và đặc biệt là nụ cười luôn nở trên môi. Làm việc ở khách sạn, ngay từ đầu, bạn cần ý thức được rằng, dù trong bất cứ tình huống nào, bạn cũng cần có phong thái của người làm dịch vụ: lịch thiệp và sẵn sàng hỗ trợ.

Giao Tiếp Khéo Léo

Khách sạn là môi trường năng động và liên tục vận hành nên bạn phải học được cách trò chuyện hiệu quả với khách hàng, đồng nghiệp, cấp trên, cấp dưới để phối hợp nhịp nhàng giữa các bộ phận và kịp thời xử lý những vấn đề phát sinh với khách.

Từ đó cho thấy, muốn theo học Quản trị khách sạn, trước hết bạn cần xác định mình có thể trau dồi kỹ năng giao tiếp tự tin, linh hoạt và nhạy bén cần thiết hay không. Tính cách quá thụ động, trầm tĩnh, lúc nào cũng “im như thóc” thì bạn không thể làm nghề khách sạn được đâu.

Ngoại Ngữ Thành Thạo

Khả năng ngoại ngữ là một trong những yêu cầu thiết yếu để làm việc trong ngành Khách sạn. Biết càng nhiều ngoại ngữ, bạn càng dễ dàng xử lý công việc hơn, giao tiếp tốt với khách hàng, hiểu rõ yêu cầu của họ để phục vụ tối ưu (do khách sạn đón tiếp lượng khách đến từ nhiều đất nước khác nhau).

Ngoài ra, giỏi ngoại ngữ, bạn sẽ dễ xin việc ở khách sạn quốc tế hơn và cơ hội thăng tiến sau này cũng rộng mở hơn.

Óc Tổ Chức, Nhạy Bén Trong Công Việc

Công việc của một người quản trị khách sạn là lập kế hoạch, đề ra chiến lược cụ thể để điều hành, đôn đốc từng bộ phận và nhân viên có liên quan đến hệ thống khách sạn để hoàn thành công việc đúng tiến độ và đạt năng suất tối đa. Do đó, người làm quản trị khách sạn cần phải có khả năng kết nối mọi người, quản lý thời gian để vận hành các bộ phận và toàn thể nhân viên làm việc một cách hiệu quả và khoa học nhất.

Nếu muốn học Quản trị khách sạn, trước hết bạn cần xác định bản thân có tố chất này hay chưa. Nếu gặp khó khăn trong việc ghi nhớ, sắp xếp công việc, bước đầu có thể bạn sẽ vướng nhiều trở ngại. Nhưng đừng lo, qua quá trình học tập và rèn luyện, chắc chắn bạn sẽ có thời gian khắc phục nhược điểm này.

Nhìn chung, yêu cầu của ngành Quản trị Khách sạn tuy nhiều, nhưng cũng không phải quá khó để đáp ứng. Tất cả những tiêu chí trên, nếu hiện tại chưa có, bạn vẫn có thể rèn luyện và nhanh chóng đáp ứng được nếu như thật sự nỗ lực học hỏi, hoàn thiện bản thân.

4. Ngành quản trị khách sạn học trường nào?

Ở Việt Nam có rất nhiều trường đại học đào tạo ngành học này như Đại học Hoa Sen, Đại học Văn Lang hay Đại học Ngoại ngữ Tin học TP.HCM. Bậc học của ngành này tại Việt Nam cũng rất đa dạng khi có cả Trung cấp, Cao đẳng và Đại học. Các bạn có thể tự tra cứu thêm để tìm ra địa điểm học tập phù hợp với nhu cầu của mình.

Ngoài ra lựa chọn du học ngành này cũng rất đáng cân nhắc vì bạn sẽ được học những kiến thức ở Việt Nam có thể sẽ không dạy như Quản trị Sòng bạc và Khu vui chơi (Gaming and Casino Management). 

5. Ngành quản trị khách sạn thi khối nào?

Kinh tế nước nhà đã và đang phát triển mạnh mẽ ở rộng khắp các địa phương và tỉnh thành. Vì vậy, để đáp ứng nhu cầu nguồn lực cấp bách cho ngành công nghiệp không khói, Bộ Giáo dục và Đào tạo (Bộ GD-ĐT) chủ trương mở rộng xét tuyển thí sinh ở hầu hết tất cả các khối, bao gồm: A (Toán – Lý – Hóa), khối A1 (Toán – lý –Anh), khối C (Văn – Sử – Địa) và khối D1 (Toán – Văn – Anh). Ngoài ra, hiện này có nhiều trường hợp xét tuyển cả khối D3 (Toán – Văn – Pháp) và D4 (Toán – Văn – Trung).

Tùy vào từng trường mà ngành Quản lý Nhà hàng – Khách sạn sẽ chia thành các khoa với tên gọi khác nhau như Quản trị Du lịch – Nhà hàng – Khách sạn, Quản trị Nhà hàng và Dịch vụ ăn uống, Quản trị Dịch vụ Du lịch và Lữ hành, Văn hóa Du lịch – Quản trị Du lịch Khách sạn – Hướng dẫn du lịch…
Từ khóa liên quan: yêu cầu của ngành quản trị khách sạn, các ngành quản trị khách sạn, ngành quản trị khách sạn ở hà nội, ngành quản trị khách sạn ở đà nẵng