luận văn quản trị sản xuất

Bạn đang chuẩn bị luận văn quản trị sản xuất mà chưa có kinh nghiệm? Hãy tham khảo ngay cách làm phần cơ sở lý thuyết dưới đây mà Luận Văn Việt chuyên viết thuê luận văn, làm tiểu luận thuê chia sẻ. Với tài liệu tham khảo này, bạn hoàn toàn có thể tự xây dựng một đề cương hoàn chỉnh cho bài luận văn của mình một cách dễ dàng.

luận văn quản trị sản xuất
luận văn quản trị sản xuất

1. Khái quát về doanh nghiệp và quản lý sản xuất 

1.1. Khái niệm doanh nghiệp 

Trong nền kinh tế, mô hình tổ chức cơ bản để hoạt động sản xuất, kinh doanh tiến hành thuận lợi là doanh nghiệp. Con người có thể độc lập tổ chức, sản xuất kinh doanh dưới nhiều hình thức khác nhau, từ đơn giản đến phức tạp. Một cá thể có thể sản xuất kinh doanh, một tổ sản xuất với số lượng ít người cũng có thể sản xuất tốt. Tuy nhiên cùng với quá trình phân công lao động trong xã hội, cùng với việc xã hội hoá cao và trình độ tiến bộ của lực lượng sản xuất, nhiều mô hình tổ chức sản xuất ra đời. Cách thức liên kết từng cá thể trong lao động sản xuất tạo ra hình thức tổ chức để sản xuất. Lúc đầu là một hộ gia đình, tổ hợp tác, hợp tác xã, doanh nghiệp, liên hiệp doanh nghiệp, Công ty, tổng Công ty, tập đoàn kinh tế… 

Doanh nghiệp là một tổ chức bằng nguồn lực, các phương tiện vật chất và tài chính của mình có thể thỏa mãn những nhu cầu của khách hàng ( người tiêu dùng) bằng cách cung cấp các sản phẩm ( ô tô, quần áo,…) và các dịch vụ ( du lịch, vận tải…). 

Mỗi doanh nghiệp không phải là một đơn vị độc lập trong môi trường. Trong môi trường sống, các doanh nghiệp thực hiện quá trình trao đổi vật chất và thông tin. Họ mua yếu tố sản xuất từ phía các nhà cung cấp, bán sản phẩm của mình cho khách hàng. Trong mối quan hệ với môi trường sống, chúng ta phân biệt ba loại dòng sau đây :

Dòng vật chất : Nguyên, vật liệu, năng lượng, nhiên liệu, các loại dụng cụ và trang thiết bị công nghệ ; các đơn vị lắp ráp được mua từ bên ngoài, các bán thành phẩm, thành phẩm của quá trình sản xuất bán ra ngoài thị trường. 

Dòng thông tin : Quảng cáo, chiêu hàng, các đơn đặt hàng, hóa đơn, chứng từ và mọi sự trao đổi với môi trường kinh tế, xã hội, luật pháp, khoa học và kỹ thuật.

– Dòng tài chính : Sự thay đổi vốn chủ sở hữu của công ty, các khoản vay ngân hàng, trả tiền của khách, trả người cung cấp, nộp thuế, trả lương, lãi vay, phân chia lợi nhuận, các khoản phạt,… 

Các dòng trên không chỉ là sự trao đổi tương tác giữa doanh nghiệp với môi trường mà còn tồn tại ngay trong lòng doanh nghiệp, trong các xưởng sản xuất, các phòng ban quản lý chức năng

Quản lý sản xuất doanh nghiệp bắt đầu ngay từ khi doanh nghiệp đó xuất hiện. 

Nói cách khác, quản lý sản xuất có cùng tuổi đời với doanh nghiệp.

Như vậy, mỗi một doanh là một đơn vị kinh tế thực hiện các hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm cung cấp các sản phẩm / dịch vụ thỏa mãn nhu cầu thị trường và thu được lợi nhuận. Doanh nghiệp là 1 hệ thống mở với môi trường bên ngoài và doanh nghiệp cũng lại được cấu thành bởi nhiều bộ phận với những chức năng riêng biệt.

Muốn đạt được các mục tiêu của mình đòi hỏi các doanh nghiệp phải tổ chức tốt các bộ phận cấu thành như sản xuất, marketing, tài chính, nhân lực. Theo tiếp cận thế chân kiềng của doanh nghiệp thì sản xuất cùng với marketing và tài chính được xác định là 3 trục cơ bản.

 

1.2. Các hoạt động chủ yếu của doanh nghiệp

Như trên đã đề cập, dưới góc nhìn của quản trị tác nghiệp thì ba trục cơ bản của doanh nghiệp là sản xuất, marketing và tài chính : 

– Hoạt động sản xuất là một bộ phận chính có vai trò quyết định trong việc tạo ra sản phẩm/ dịch vụ cho doanh nghiệp. Quản trị hệ thống sản xuất là chức năng , nhiệm vụ cơ bản của mọi doanh nghiệp. Thiết lập, phát triển và tổ chức điều hành tốt hoạt động sản xuất là cơ sở và yêu cầu bảo đảm cho mỗi doanh nghiệp có thể đứng vững và phát triển trong nền kinh tế thị trường cạnh tranh ngày càng khốc liệt. 

– Hoạt động marketing : Marketing là quá trình xúc tiến với thị trường nhằm thỏa mãn nhu cầu và mong muốn của con người, hoạt động marketing là một dạng hoạt động của con người ( bao gồm tổ cả tổ chức doanh nghiệp) nhằm thỏa mãn nhu cầu và mong muốn thông qua quá trình trao đổi.

– Hoạt động tài chính : là hoạt động huy động vốn để bảo đảm cho các khoản của doanh nghiệp được thực hiện. Mặc dù không thường xuyên và không trực tiếp tạo ra giá trị cho doanh nghiệp những hoạt động tài trợ cũng có vai trò rất quan trọng đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp do có tính quyết định trong việc bảo đảm tính khả thi của các khoản đầu tư và tạo ra đòn bẩy tài chính nếu xem xét dưới góc độ chủ sở hữu doanh nghiệp.

 

Trong những phân hệ trên , hoạt động sản xuất được coi là khâu quyết định tạo ra sản phẩm / dịch vụ và giá trị gia tăng cho doanh nghiệp , góp phần tăng trưởng kinh tế tạo ra cơ sở vật chất thúc đẩy xã hội phát triển. Quá trình sản xuất được quản trị tốt góp phần tiết kiệm các nguồn lực cần thiết trong sản xuất, hạ giá thành, tăng năng suất lao động, nâng cao chất lượng sản phẩm/ dịch vụ và suy đến cùng là nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp.

Khẳng định vai trò quan trọng quyết định sản xuất trong việc tạo ra và cung cấp sản phẩm/ dịch vụ cho xã hội không có nghĩa là xem xét nó một cách biệt lập với các chức năng quản trị khác trong doanh nghiệp. Sự thống nhất, phối hợp cùng phát triển dựa trên cơ sở chung là thực hiện mục tiêu tổng quát của doanh nghiệp. Các phân hệ trong doanh nghiệp được hình thành và tổ chức các hoạt động sao cho vừa thực hiện tốt mục tiêu trực tiếp của mình vừa phải thực hiện tốt nhất mục tiêu tổng quát của hệ thống đặt ra.

1.3. Mục tiêu của quản lý sản xuất

Các doanh nghiệp tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm mục tiêu sinh lời ( ngoại trừ các doanh nghiệp công ích không vì lợi nhuận). Lợi nhuận tối đa là mục tiêu chung nhất và là mục tiêu cuối cùng của mọi doanh nghiệp khi đầu tư vật lực và tài lực vào các hoạt động kinh doanh trên thị trường. Quản trị sản xuất tác nghiệp có mục tiêu tổng quát là bảo đảm cung cấp đầu ra cho doanh nghiệp trên cơ sở khai thác có hiệu quả nhất các nguồn lực của doanh nghiệp đồng thời thỏa mãn tốt nhất nhu cầu của khách hàng. Để đạt được mục tiêu chung nhất này, quản trị sản xuất, tác nghiệp có những mục tiêu cụ thể sau:

– Bảo đảm chất lượng sản phẩm/ dịch vụ theo yêu cầu của khách hàng trên cơ sở khả năng của doanh nghiệp.

– Bảo đảm đúng dung lượng mong muốn của thị trường. 

– Giảm chi phí sản xuất tới mức thấp nhất có thể khi tạo ra một đơn vị đầu ra. 

– Rút ngắn thời gian sản xuất sản phẩm hoặc cung cấp dịch vụ. 

– Đảm bảo cung ứng đúng thời điểm, đúng địa điểm, đúng số lượng và đúng khách hàng.

– Xây dựng hệ thống sản xuất năng động, linh hoạt. 

– Đảm bảo mối quan hệ qua lại tốt với khách hàng và nhà cung ứng. 

– Xây dựng hệ thống và các phương pháp quản trị gọn nhẹ và không có lỗi với khách hàng.

Hệ thống mục tiêu cụ thể trên cần gắn bó chặt chẽ với nhau, tạo ra sức mạnh tổng hợp, góp phần nâng cao khả năng cạnh tranh cho doanh nghiệp trên thị trường.

1.4. Quản lý các dòng trong sản xuất 

Dòng thông tin 

Quản lý sản xuất cần quản lý toàn bộ quá trình cung cấp sản phẩm từ nghiên cứu, thiết kế, chuẩn bị sản xuất, sản xuất đến kiểm tra, theo dõi,… Thông tin cần phải tin cậy, chính xác , và chọn lựa sao cho chúng mang đến một ý nghĩa đúng đắn đối với những bộ phận sản xuất và những người có liên quan.

 

Dòng vật chất 

– Cung cấp nguyên liệu và tiêu thụ sản phẩm. 

– Tuân thủ các cam kết ( đúng thời gian, chất lượng, số lượng và chủng loại) 

– Giảm chu kỳ sản xuất sản phẩm bằng cách tác động tới mọi giai đoạn của quá trình sản xuất ( dự trữ , tiếp nhận, sản xuất, lắp ráp, kiểm tra, tiêu thụ…). 

– Giảm tất cả các loại dự trữ ( nguyên, vật liệu, chế phẩm và sản phẩm cuối cùng) 

1.5. Kế hoạch quá trình sản xuất

Thực tế luôn luôn có sự khai thác giữa dự báo và thị trường, nơi mà một doanh nghiệp muốn thâm nhập. Kế hoạch được xây dựng trên cơ sở năng lực sản xuất tính đến thời gian chờ đợi, thời gian máy hỏng,… và khả năng tiêu thụ sản phẩm. Vì vậy, chỉ bằng cách dự báo chính xác nhu cầu sản phẩm, trên cơ sở phân tích sự tồn kho, tính toán chính xác năng lực sản xuất thì kế hoạch mới được xây dựng chính xác, quản lý sản xuất mới trở thành một nhân tố quan trọng đảm bảo sự thành công trong kinh doanh, thỏa mãn yêu cầu của quản lý sản xuất. Đó là: 

– Sản xuất sản phẩm chất lượng cao 

– Duy trì có hiệu quả toàn bộ sự hoạt động của hệ thống sản xuất nhằm cực tiểu các hỏng hóc và chi phí sản xuất 

– Quản lý tốt các nguồn lực ( đào tạo, khuyến khích, giải thích,…).

– Quyết định đầu tư phù hợp. 

– Các thiết bị được lắp đặt phù hợp với dòng di chuyển vật chất.

 

 1.6. Năng suất trong quá trình sản xuất 

Thực chất và tầm quan trọng của năng suất trong sản xuất và dịch vụ 

Quản trị sản xuất gắn liền với việc nâng cao năng suất và đánh giá năng suất đạt được của từng khâu, từng bộ phận cũng như của toàn bộ dây chuyền sản xuất của doanh nghiệp. Năng suất là tiêu chuẩn phản ánh tổng hợp nhất hiệu quả của hoạt động quản trị sản xuất và tác nghiệp. Năng suất trở thành nhân tố quan trọng nhất đánh giá khả năng cạnh tranh của hệ thống sản xuất trong mỗi doanh nghiệp, đồng thời cũng thể hiện trình độ phát triển của các doanh nghiệp, các quốc gia. Về mặt toán học, năng suất là tỷ số giữa đầu ra và những yếu tố đầu vào được sử dụng để tạo ra đầu ra đó. Đầu ra có thể là tổng giá trị sản xuất hoặc giá trị gia tăng, hoặc khối lượng hàng hoá tính bằng đơn vị hiện vật. Đầu vào được tính theo các yếu tố tham gia để sản xuất ra đầu ra, đó là lao động, nguyên vật liệu, thiết bị máy móc,…. Việc chọn đầu vào và đầu ra khác nhau sẽ tạo ra các mô hình đánh giá năng suất khác nhau. Có thể biểu diễn công thức tính năng suất chung cho tất cả các yếu tố như sau:

 

Ảnh 1 – Công thức tính năng suất

Như vậy, năng suất được đánh giá chung cho tất cả các yếu tố và cho từng yếu tố đầu vào. Nó được lượng hoá thông qua những con số cụ thể, phản ánh mức hiệu quả của việc khai thác sử dụng các yếu tố đầu vào. Tuy nhiên ngoài những yếu tố có thể lượng hoá được năng suất cần được đánh giá đầy đủ về mặt định tính như tính hữu ích của đầu ra, mức độ thoả mãn người tiêu dùng, mức độ đảm bảo những yêu cầu về xã hội gồm bảo vệ môi trường, sử dụng tiết kiệm nguồn tài nguyên, ít gây ô nhiễm,… Khái niệm năng suất phản ánh tính lợi nhuận, tính hiệu quả, sự đổi mới và chất lượng hoạt động của doanh nghiệp. Chỉ tiêu năng suất cho doanh nghiệp biết được trình độ và chất lượng của hoạt động quản trị sản xuất, đồng thời là cơ sở để xem xét việc trả công cho người lao động sau mỗi quá trình sản xuất. Vì vậy, việc tính toán năng suất có ý nghĩa rất quan trọng trong quản trị sản xuất của các doanh nghiệp.

 

Những nhân tố tác động đến năng suất 

Các nhân tố ảnh hưởng đến năng suất chia thành hai nhóm chủ yếu: 

– Nhóm nhân tố bên ngoài: bao gồm môi trường kinh tế thế giới, tình hình thị trường, cơ chế chính sách kinh tế của nhà nước.

– Nhóm nhân tố bên trong: bao gồm nguồn lao động, vốn, công nghệ, tình hình và khả năng tổ chức quản lý, tổ chức sản xuất. Có thể biểu diễn sự tác động của các nhân tố này theo sơ đồ sau:

Ảnh 2 – Các nhân tố ảnh hưởng đến năng suất

1.7. Quản trị năng lực sản xuất của doanh nghiệp

Quản trị năng lực sản xuất của doanh nghiệp nhằm xác định quy mô công suất dây chuyền sản xuất của doanh nghiệp. Hoạt động này có ảnh hưởng rất lớn đến khả năng phát triển của doanh nghiệp trong tương lai.

Xác định đúng năng lực sản xuất làm cho doanh nghiệp vừa có khả năng đáp ứng được những nhu cầu hiện tại, vừa có khả năng nắm bắt những cơ hội kinh doanh mới trên thị trường để phát triển sản xuất.

– Xác định năng lực sản xuất không hợp lý sẽ gây lãng phí rất lớn, tốn kém vốn đầu tư hoặc có thể cản trở quá trình sản xuất sau này.

 – Quy mô sản xuất phụ thuộc vào nhu cầu, đồng thời là nhân tố tác động trực tiếp đến loại hình sản xuất, cơ cấu tổ chức quản lý và sản xuất của các doanh nghiệp.

1.8.  Lãng phí trong sản xuất 

Lãng phí là “ tất cả những gì sử dụng nhiều hơn số lượng tối thiểu cần thiết về thiết bị, vật tư, phụ tùng, diện tích và thời gian lao động để thực sự tạo ra giá trị cho sản phẩm “             

( trích theo Shoichiro Toyoda- President, Toyota) 

Để phân tích được thực trạng về chi phí sản xuất của SHWS, chúng ta sẽ xem xét dựa trên mô hình 7 lãng phí (MUDA).

Ảnh 4  – Mô hình 7 lãng phí trong sản xuất

– Lãng phí do sản xuất thừa: Sản xuất nhiều hơn lượng khách hàng cần lúc đó, nguyên nhân có thể do việc sản xuất theo dự báo, sản xuất nhiều hơn để tránh thay thế, sản xuất nhiều hơn để tránh hỏng, hay do thời gian setup dài… Để không sản xuất thừa thì cần xem xét việc cân bằng quá trình, giảm thời gian setup….

– Lãng phí do vận chuyển: Việc vận chuyển sản phẩm không làm giá tăng giá trị, do đó việc vận chuyển dài, vận chuyển không cần thiết gây lãng phí. Ví dụ vận chuyển vật tư nhập, xuất kho, vận chuyển vật tư từ vị trí làm việc này đến vị trí làm việc khác. Nguyên nhân xuất hiện lãng phí này có thể do các nguyên nhân như vấn đề về kho bãi, việc layout bố trí theo chức năng, việc sản xuất theo lô

– Lãng phí do thao tác: Các thao tác con người không làm gia tăng giá trị, các thao tác gây lãng phí như việc tìm kiếm vật tư, dụng cụ,… việc sắp xếp lại vật tư, việc mang vác các hộp vật tư… Nguyên nhân là việc tổ chức khu làm việc không tốt, sắp xếp vật tư chưa cụ thể còn thiếu loại hay khu vực làm việc không an toàn… Để giảm các lãng phí này cần 5S, thiết kế lại khu vực làm việc:

o   Seiri: Phân loại những thứ cần thiết và những thứ không cần thiết để loại bỏ những thứ không cần thiết. 

o   Seiton: Sắp xếp những thứ cần thiết sao cho khi cần có thể dùng được ngay. 

o   Seiso: Vệ sinh sạch các loại rác, bẩn có ở xung quanh mình.

o   Seiketsu: Duy trì, quản lý tình trạng sạch sẽ có được sau khi đã thực hiện seiri, seiton

o   Shitsuke: Quy định ra các nội quy để duy trì tình trạng được yêu cầu…

– Lãng phí do chờ đợi: thời gian chờ đợi do vật tư, thông tin, con người, thiết bị không sẵn sàng. 

– Lãng phí do thừa quá trình: Dưới góc độ đánh giá của khách hàng thì các nỗ lực không tăng giá trị, các lãng phí này như: vệ sinh lặp đi lặp lại cho 1 chi tiết, các công việc giấy tờ, thiết kế vật tư hoặc dụng cụ vụng về… 

– Lãng phí do tồn kho: Vật tư, bán thành phẩm, sản phẩm được lưu giữ nhiều hơn số lượng cần cung cấp cho khách hàng. Tồn kho tạo sự không hiệu quả như chi phí thiết lập, thời gian chờ lớn, hàng đợi dài, chất lượng thất thường, cung cấp không tin cậy, dòng sản phẩm không đồng bộ, … Tồn kho che dấu các vấn đề như máy hư, chất lượng thấp, nguyên liệu tồi, công cụ mòn, công nhân vắng, phân phối trễ,… Các vấn đề này làm ngăn cản dòng sản phẩm, cần quan sát hiện trường, tìm nguyên nhân từ đó giải quyết các vấn đề. 

Tồn kho bán thành phẩm là bán phẩm trên các dây chuyền sản xuất, có thể chiếm đến 50% tổng đầu tư tồn kho. Đầu tư tồn kho bán thành phẩm là tích lũy chi phí trực tiếp và gián tiếp trong quá trình chế tạo từ nguyên liệu đến bán phẩm rồi thành phẩm. Tồn kho bán phẩm phụ thuộc vào:

o   Quá trình sản xuất. 

o   Phương pháp điều độ 

o   Phương pháp cấp liệu

Quá trình sản xuất bao gồm quá trình liên tục và quá trình gián đoạn. Quá trình liên tục có sản phẩm rời rạc hay lượng lớn, sản xuất lập lại hay theo quá trình, dòng vật tư theo cùng đường hay chiều có thể bỏ qua vài trạm, sản xuất nhập kho. Quá trình gián đoạn có sản phẩm nhiều chủng loại, dòng vật tư phức tạp, sản xuất theo đơn hàng. Tồn kho bán thành phẩm thường lớn ở quá trình sản xuất gián đoạn. 

– Lãng phí do lỗi hỏng: Các tổn thất liên quan đến sai lỗi, làm lại, thiếu sót…. 

Các lãng phí này bao gồm như: các phế thải, việc sửa chữa, nhầm chi tiết…. 

2. Khái quát về hệ thống sản xuất 

2.1. Khái niệm về hệ thống sản xuất

Quá trình sản xuất của các doanh nghiệp thường được tiến hành trong các xưởng sản xuất. Nếu sản phẩm có kết cấu phức tạp, quy trình công nghệ gia công phức tạp bao gồm nhiều nguyên công (operation) đòi hỏi sự tham gia của nhiều công nhân có nghề nghiệp khác nhau, sử dụng nhiều loại thiết bị , máy móc khác nhau thuộc nhiều ngành kỹ thuật khác nhau ( cơ khí, điện tử, hóa chất,…) thì trong phạm vi một xưởng sản xuất không thể đảm nhận thực hiện mọi nguyên công của một quá trình sản xuất sản phẩm được, đặc biệt đối với sản phẩm công nghiệp có kết cấu phức tạp như ô tô, tàu thủy, … Khi đó , người ta có xu hướng hình thành nhiều phân xưởng cùng tham gia vào quá trình sản xuất sản phẩm.

Các phân xưởng này có mối quan hệ chặt chẽ với nhau trong sản xuất: phân xưởng kéo sợi cung cấp sợi cho phân xưởng dệt trong hệ thống sản xuất của công ty dệt; phân xưởng gia công cơ khí cung cấp các chi tiết cho phân xưởng lắp ráp trong hệ thống sản xuất của công ty cơ khí,… Việc phân chia khu vực sản xuất của một công ty thành những bộ phận sản xuất đã tạo nên một hệ thống sản xuất cho doanh nghiệp đó.

Vậy: Hệ thống sản xuất là tập hợp các phân xưởng sản xuất chính , phân xưởng sản xuất phụ và các bộ phận phục vụ mang tính chất sản xuất cùng với những mối liên hệ giữa chúng trong quá trình sản xuất. 

Xuất phát từ khái niệm trên, một hệ thống sản xuất của một công ty bao gồm các thành phần chính sau đây:

2.2. Các phân xưởng sản xuất chính 

Phân xưởng sản xuất chính là những phân xưởng trực tiếp tham gia vào quá trình sản xuất ra các sản phẩm chính của doanh nghiệp. Sản phẩm chính là sản phẩm nằm trong danh mục kinh doanh của doanh nghiệp, được sản xuất và tiêu thụ trên thị trường nhằm mục tiêu lợi nhuận.

2.3. Các phân xưởng sản xuất phụ

Là những phân xưởng trực tiếp tham gia vào quá trình sản xuất ra các sản phẩm phụ của công ty. Sản phẩm được coi là phụ nếu chúng không nằm trong danh mục các sản phẩm kinh doanh của công ty, nhưng được sản xuất để tiêu dùng nội bộ, nhằm mục đích hỗ trợ cho sự hoạt động chung của doanh nghiệp.

2.4. Các bộ phận phục vụ có tính chất sản xuất 

Là những bộ phận mà hoạt động của nó có tính chất phục vụ, đảm bảo cho hoạt động sản xuất chính và sản xuất phụ được tiến hành bình thường như bộ phận kho hàng, bộ phận vận chuyển, bộ phận vệ sinh công nghiệp,… 

Trong một doanh nghiệp, ngoài các bộ phận phục vụ có tính chất sản xuất còn có các bộ phận phục vụ không có tính chất sản xuất như nhà ăn, câu lạc bộ, y tế, nhà trẻ , thư viện… 

Hệ thống sản xuất, bộ máy quản lý và các bộ phận phục vụ không có tính chất sản xuất tạo nên hệ thống chung của một doanh nghiệp.

2.5. Các dạng hệ thống sản xuất.

Phân biệt các dạng hệ thống sản xuất được tiến hành dựa trên cơ sở các phương pháp phân chia hệ thống sản xuất thành các phân xưởng sản xuất chính. Quá trình phân chia này được quyết định bởi một số nhân tố chính. Căn cứ vào nguyên tắc phân chia hệ thống sản xuất của một doanh nghiệp thành các phân xưởng sản xuất chính, ta phân biệt 2 loại hệ thống sản xuất sau đây:

 

Hệ thống sản xuất được hình thành theo nguyên tắc chuyên môn hóa công nghệ. 

Theo hình thức này, việc phân chia các xưởng sản xuất chính dựa vào hành trình công nghệ sản xuất sản phẩm hoặc các phương pháp công nghệ gia công, chế biến sản phẩm. Mỗi phân xưởng đảm nhận một giai đoạn công nghệ nhất định trong hành trình công nghệ sản xuất sản phẩm chính hoặc một phương pháp công nghệ nào đó.

Chuyên môn hóa công nghệ được áp dụng khi doanh nghiệp phải sản xuất nhiều loại sản phẩm có khối lượng sản xuất không lớn với quy trình công nghệ gia công khác nhau. Tổ chức hệ thống sản xuất dạng này có ưu điểm là có khả năng thích ứng cao với sự biến động về thị trường sản phẩm. Điều này thấy rất rõ trong hệ thống sản xuất của các trường đại học, trong các bệnh viện và trong các ngành sản xuất may mặc, cơ khí, điện dân dụng… hệ thống sản xuất và mặt bằng ít biến động khi sản phẩm thay đổi. Việc quản lý kỹ thuật chuyên môn đơn giản vì tính thống nhất về chuyên môn kỹ thuật trong một đơn vị sản xuất; có khả năng tập trung các chuyên gia để xử lý những vấn đề chuyên môn đặc biệt, và có khả năng tận dụng được năng lực sản xuất của thiết bị, máy móc.

Nhược điểm lớn nhất của hệ thống sản xuất dạng này là tổ chức phối hợp giữa các đơn vị sản xuất rất phức tạp, nhất là khi phải gia công nhiều loại sản phẩm làm cho chi phí vận chuyển nội bộ tăng lên , dự trữ vật tư bán thành phẩm trong sản xuất lớn , chu kỳ sản xuất kéo dài.

Hệ thống sản xuất được hình thành theo nguyên tắc chuyên môn hóa sản phẩm

Theo hình thức này, hệ thống sản xuất được phân chia thành các phân xưởng sản xuất chính theo sản phẩm được sản xuất. Mỗi phân xưởng đảm nhận gia công hoàn chỉnh một hoặc vài loại sản phẩm nào đó có khối lượng sản xuất lớn và ổn định trong một thời gian tương đối dài.

Hệ thống sản xuất chuyên môn hóa sản phẩm thường hình thành các dây chuyền sản xuất khép kín cho từng sản phẩm, tạo ra những đường di chuyển thẳng dòng của sản phẩm trong khi gia công, chế biến.

Tổ chức sản xuất trong dây chuyền sản xuất trở nên đơn giản hơn, chu kỳ sản xuất được rút ngắn, chuyên môn hóa lao động sâu nên trình độ tay nghề của người lao động thấp nhưng năng suất lao động cao, cho phép doanh nghiệp có thể tiết kiệm được chi phí tiền lương trực tiếp.

Do thiết bị cùng loại phân tán trong nhiều phân xưởng khác nhau nên quản lý kỹ thuật trở nên phức tạp và kém hiệu quả. Chi phí đầu tư để mua sắm và lắp đặt máy móc, thiết bị chuyên dùng cho từng loại sản phẩm, điều đó còn gây thiệt hại lớn khi ta thay đổi sản phẩm vì khả năng chuyển đổi thấp . Để khắc phục điều này, hiện nay người ta đã thiết kế và chế tạo các loại thiết bị điều chỉnh linh hoạt với chi phí điều chỉnh thấp khi thay đổi sản phẩm làm cho tính linh hoạt của hệ thống sản xuất được nâng lên.

2.6. Các nguyên tắc bố trí mặt bằng sản xuất 

Bố trí mặt bằng sản xuất là sự sắp xếp , bố trí các yếu tố của hệ thống sản xuất bao gồm các phân xưởng sản xuất chính, các phân xưởng sản xuất phụ và các bộ phận phục vụ có tính chất sản xuất trên một không gian diện tích nhất định đã được biến đổi thích hợp.

 

Việc lựa chọn mặt bằng sản xuất và bố trí mặt bằng do nhiều yếu tố quyết định như: 

– Nguồn nguyên vật liệu.

– Khả năng mở rộng sản xuất.

– Nguồn lao động và những vấn đề đời sống của người lao động.

– Môi trường sinh thái. 

– Hệ thống giao thông.

Hình thành hệ thống sản xuất và sắp xếp, bố trí mặt bằng sản xuất của một doanh nghiệp sẽ ảnh hưởng đến các chỉ tiêu sau: 

– Khả năng mở rộng và thu hẹp sản xuất trong tương lai. 

– Khả năng thích nghi với những thay đổi về sản phẩm và công nghệ sản xuất

– Tính chất linh hoạt của hệ thống sản xuất.

– Hiệu quả của vận chuyển nội 

– Khối lượng hàng tồn kho trong sản xuất

– Hiệu quả sử dụng diện tích sản xuất.

– Thuận tiện cho công tác quản lý.

– Khả năng sử dụng năng lực máy móc thiết bị….

Do đó , sắp xếp bố trí các phân xưởng sản xuất tại khu vực sản xuất đã được lựa chọn tuân thủ một số các nguyên tắc sau:

Tuân thủ hành trình công nghệ gia công, chế biến sản phẩm:

Theo nguyên tắc này, thứ tự các phân xưởng được sắp xếp theo trình tự của quy trình công nghệ sản xuất sản phẩm; sản phẩm trải qua phân xưởng nào trước thì phân xưởng đó được bố trí gần kho nguyên vật liệu; phân xưởng cuối cùng mà sản phẩm trải qua sẽ nằm gần kho thành phẩm; 2 phân xưởng có quan hệ trực tiếp trao đổi sản phẩm cho nhau sẽ được bố trí cạnh nhau.

Giữa các phân xưởng sản xuất chính có thể bố trí các kho bán thành phẩm nội bộ và bộ phận phục vụ cho phân xưởng nào thì bố trí gần phân xưởng đó. 

Tuân thủ nguyên tắc này sẽ tạo ra một đường đi thẳng dòng của sản phẩm , nhờ đó có thể tiết kiệm chi phí vận chuyển nội bộ, dễ sắp xếp, bố trí các phương tiện vận chuyển, đặc biệt đối với các sản phẩm lớn như ô tô, xe máy vận chuyển bằng cầu trục hoặc các xe chạy trên đường ray….

Đảm bảo khả năng mở rộng sản xuất.

Quy luật phát triển thường dẫn đến tăng sản lượng sản xuất hoặc đa dạng hóa sản phẩm bằng cách đưa vào sản xuất thêm các loại sản phẩm khác, điều đó đòi hỏi các công ty sau một thời gian hoạt động thường có nhu cầu mở rộng mặt bằng sản xuất. Vì vậy, ngay từ khi chọn địa điểm và bố trí mặt bằng sản xuất người ta phải dự kiến khả năng mở rộng trong tương lai. Khả năng mở rộng sản xuất là: Mở rộng theo chiều dọc, mở rộng theo chiều ngang, ở rộng theo chiều cao (chiều sâu). Mỗi khả năng mở rộng chỉ thích ứng với những đặc điểm nhất định về sản phẩm và công nghệ sản xuất, đặc biệt là máy móc thiết bị.

Nguyên tắc đảm bảo an toàn cho sản xuất và người lao động

Quán triệt nguyên tắc này, khi bố trí mặt bằng đòi hỏi phải tính đến các yếu tố về an toàn cho người lao động, cho máy móc, cho thiết bị, bảo đảm chất lượng sản phẩm và tạo ra một môi trường làm việc thuận lợi cho người công nhân.

 

Mọi quy định về chống ồn, chống bụi, chống rung, chống nóng, chống cháy nổ, … phải được tuân thủ. 

Trong thiết kế mặt bằng phải đảm bảo khả năng thông gió và chiếu sáng tự nhiên; các phân xưởng sinh ra nhiều bụi, khói, hơi độc, bức xạ có hại,… phải được bố trí thành khu nhà riêng biệt ở cuối hướng gió chính và không được bố trí gần khu vực dân cư. 

Nguyên tắc tiết kiệm đất đai 

Đất đai là một trong những tư liệu sản xuất quý, bởi vậy , trên cơ sở đảm bảo các yêu cầu về mặt kỹ thuật, an toàn và vẻ đẹp,… bố trí mặt bằng phải quán triệt nguyên tắc tiết kiệm đất đai. 

Hiệu quả sử dụng diện tích được đánh giá thông qua 2 chỉ tiêu là mật độ xây dựng và hệ số sử dụng diện tích. 

– Mật độ xây dựng là tỷ số giữa diện tích do những công trình kiến trúc có mái che so với toàn bộ diện tích của nhà máy. Trong các nhà máy sản xuất sản phẩm công nghiệp, hệ số này nằm trong khoảng 0.35~0.45.

– Hệ số sử dụng diện tích là tỷ số giữa diện tích các công trình kiến trúc có mái che và phần diện tích sử dụng khác ( trạm biến áp, đường vận chuyển, kho bãi ngoài trời,…) trên toàn bộ diện tích của nhà máy. Trong sản xuất công nghiệp, hệ số này nằm trong khoảng 0.35~0.45. 

Hiện nay để tiết kiệm đất đai trong sản xuất công nghiệp, trong những trường hợp cho phép người ta vẫn có thể xây dựng các xưởng sản xuất nhiều tầng. 

 

2.7. Kiểm soát hệ thống sản xuất

 

Trong chức năng kiểm soát hệ thống sản xuất có hai nội dung quan trọng nhất là kiểm tra kiểm soát chất lượng và quản trị hàng tồn kho. Hàng dự trữ tồn kho luôn là một trong những yếu tố chiếm tỷ trọng chi phí khá lớn trong giá thành sản phẩm. Ngoài ra dự trữ không hợp lý sẽ dẫn đến ứ đọng vốn, giảm hệ số sử dụng và vòng quay của vốn hoặc gây ra ách tắc cho quá trình sản xuất do không đủ dự trữ nguyên liệu cho quá trình sản xuất hoặc sản phẩm hoàn chỉnh không bán được. Hoạt động quản trị hàng dự trữ được đề cập đến với những mô hình cụ thể ứng dụng cho từng trường hợp sao cho tìm được điểm cân bằng tối ưu giữa chi phí tồn kho và lợi ích của dự trữ tồn kho đem lại. Quản trị hàng dự trữ, tồn kho phải đảm bảo cả về mặt hiện vật và giá trị nhằm đảm bảo tối ưu, không tách rời nhau hai luồng chuyển động giá trị và hiện vật. Những phương pháp quản trị giá trị và hiện vật sẽ cho phép kiểm soát chặt chẽ lượng dự trữ tồn kho trong từng thời kỳ. Quản lý chất lượng trong sản xuất là một yếu tố mang ý nghĩa chiến lược trong giai đoạn ngày nay. Để sản xuất sản phẩm ra với chi phí sản xuất thấp, chất lượng cao đáp ứng được những mong đợi của khách hàng thì hệ thống sản xuất của các doanh nghiệp phải có chất lượng cao và thường xuyên được kiểm soát. Quản lý chất lượng chính là nâng cao chất lượng của công tác quản lý các yếu tố, bộ phận toàn bộ quá trình sản xuất của mỗi doanh nghiệp. Trong quản lý chất lượng sẽ tập trung giải quyết những vấn đề cơ bản về nhận thức và quan điểm về chất lượng và quản lý chất lượng của các doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường. Phân tích mục tiêu, nhiệm vụ, các đặc điểm, phạm vi và chức năng của quản lý chất lượng trong sản xuất là cơ sở khoa học để các cán bộ quản trị sản xuất xây dựng chính sách, chiến lược chất lượng cho bộ phận sản xuất. Một yêu cầu bắt buộc đối với các cán bộ quản trị sản xuất là cần hiểu rõ và biết sử dụng các công cụ và kỹ thuật thống kê trong quản lý chất lượng. Hệ thống công cụ thống kê và kỹ thuật thống kê góp phần đảm bảo cho hệ thống sản xuất được kiểm soát chặt chẽ và thường xuyên có khả năng thực hiện tốt những mục tiêu chất lượng đã đề ra.

7 yếu tố quan trọng đối với người kinh doanh ngành quản trị nhà hàng

Nếu bạn chọn ngành quản trị nhà hàng để tiến bước trên con đường sự nghiệp thì hãy không ngừng trau dồi những kỹ năng mềm, những kiến thức thay đổi từng ngày. Bởi không có một nhà hàng nào đủ sức hấp dẫn với tất cả mọi người. Đó là một thực tế mà nhiều người mới bước vào kinh doanh khó chấp nhận….

Trong bài viết này, Luận Văn Việt chuyên viết luận văn tốt nghiệp sẽ chia sẻ đến bạn: “7 yếu tố quan trong khi Kinh doanh ngành quản trị nhà hàng”

7 yếu tố quan trọng đối với người kinh doanh ngành quản trị nhà hàng
7 yếu tố quan trọng đối với người kinh doanh ngành quản trị nhà hàng

Nhà hàng là một trong những loại hình kinh doanh thử thách nhất để bắt đầu. Nó đòi hỏi sự tận tâm và khả năng nắm bắt chi tiết. Từng bước hướng dẫn dưới đây sẽ giúp bạn quản lý cả quá trình để bắt đầu kinh doanh nhà hàng, từ việc lựa chọn ý tưởng tới việc tìm địa điểm và nhân viên. 

Xu hướng ăn ở nhà hàng ngày càng gia tăng ở bất kì quốc gia nào. Chỉ tính riêng ở Mỹ, người ta dự đoán vào khoảng năm 2010, ngành công nghiệp nhà hàng sẽ đạt doanh thu khoảng 577 tỉ USD/năm. Với tốc độ phát triển như ngày nay, Việt Nam cũng sẽ không tránh khỏi xu thế đó.

Mặc dù tương lai kinh doanh nhà hàng có vẻ tươi sáng nhưng không có gì đảm bảo ai cũng có thể thành công trong ngành này. Thậm chí những người kinh doanh thành công nhất cũng cho rằng đó không phải là ngành “kiếm tiền nhanh chóng”. Nó giống với một ngành “làm việc chăm chỉ và tìm kế sinh nhai” hơn. 

Một thực tế hiển nhiên là có rất nhiều nhà hàng bị thua lỗ trong năm đầu kinh doanh mà nguyên nhân chủ yếu là thiếu hoạch định. Điều này có nghĩa kinh doanh nhà hàng là một nghề phức tạp? Không hẳn như vậy, thực tế, bạn càng tổ chức hợp lý, cơ hội thành công càng cao. Robert Owens, chủ của nhà hàng kinh doanh đồ biển RV tại Bắc Carolina cho biết “Kinh doanh nhà hàng là ngành kinh doanh đơn giản mà con người làm cho nó phức tạp lên”. Công thức thành công của ông là đồ ăn chất lượng và phục vụ tốt-phương pháp rất có hiệu quả đối với ông trong gần một phần tư thế kỷ qua. 

Dù ước mơ của bạn là mở một nhà hàng ăn tối truyền thống, hiệu bánh pizza kiểu New York, buffet Trung Quốc hay tiệm cà phê, bạn cũng có thể áp dụng từng bước dưới đây: 

1. Thị trường mục tiêu 

Không có một nhà hàng nào đủ sức hấp dẫn với tất cả mọi người. Đó là một thực tế mà nhiều người mới bước vào kinh doanh khó chấp nhận. Vì thế, hãy chỉ nhắm vào 5 hay 10% thị trường và phục vụ tốt, thế là bạn đã thành công. 

Bạn có thể phân đoạn thị trường theo độ tuổi, theo thu nhập, sở thích hay nhà hàng đặc thù (nhà hàng dinh dưỡng, nhà hàng ăn chay…). Tuỳ từng cách phân đoạn, bạn tìm hiểu đặc điểm của từng đối tượng để có cách thức kinh doanh phù hợp. Ví dụ phân đoạn theo độ tuổi.

Thế hệ Y: thế hệ này, còn được gọi là thế hệ thiên niên kỷ, sinh từ năm 1980 trở về sau. Thế hệ này rất năng động, thích cái mới, dễ cuốn vào trào lưu, muốn khẳng định mình và khá độc lập.

-Thế hệ X: Là những người đã trưởng thành trẻ tuổi, được sinh ra trong khoảng 1965-1977. Họ bắt đầu trầm hơn, không thích bị chú ý, chín chắn và quan tâm tới thực chất.

-Thế hệ sinh từ năm 1946-1964: Ở lứa tuổi này họ đã có một sự nghiệp ổn định, ưa thích sự sang trọng…

Cần phân tích đặc điểm của từng khách hàng để lựa chọn khách hàng mục tiêu nhằm phục vụ một cách hiệu quả nhất. 

7 yếu tố quan trọng đối với người kinh doanh ngành quản trị nhà hàng
7 yếu tố quan trọng đối với người kinh doanh ngành quản trị nhà hàng

2. Lựa chọn địa điểm 

Tuỳ thuộc vào số tiền bạn có thể đầu tư vào việc mở nhà hàng và loại hình nhà hàng mà bạn lựa chọn để có hướng tìm địa điểm phù hợp. 

Không phải hầu hết các nhà hàng đều cần gần nơi đông dân cư, tuy nhiên đối với những nhà hàng phụ thuộc vào đặc điểm này, cần lưu ý một số điểm khi lựa chọn nơi kinh doanh: 

-Lượng bán hàng dự kiến. Địa điểm bán hàng ảnh hưởng như thế nào tới khối lượng bán của bạn?

-Giao thông. Xem xét lưu lượng người đi bộ và đi xe. Có khoảng bao nhiêu lượt người đi bộ và đi xe qua lại mỗi ngày? Địa điểm có thuận lợi cho việc dừng chân của khách hàng hay không?

-Nhân khẩu học. Những người sống và làm việc gần địa điểm đó có phù hợp với khách hàng mục tiêu của bạn không?

-Khả năng thanh toán tiền thuê địa điểm. Nếu bạn đã tính toán lỗ lãi trong năm đầu kinh doanh, bạn sẽ biết con số gần chính xác doanh thu bạn sẽ đạt được là bao nhiêu và dùng con số này để quyết định nên thuê địa điểm với mức bao nhiêu thì vừa. 

-Thuận lợi dừng đỗ xe. Địa điểm phải đảm bảo có chỗ để xe cho khách và dễ dừng đỗ.

 

-Gần các cửa hàng khác. Những cửa hàng gần kề có thể ảnh hưởng tới doanh số của bạn, sự có mặt của họ tác động bất lợi hay có lợi? 

-Lịch sử của địa điểm. Tìm hiểu lịch sử trước khi quyết định thuê hay không. Ai là người thuê trước đó và tại sao họ lại không thuê nữa? 

-Phát triển trong tương lai. Tìm hiểu chiến lược quy hoạch của địa phương để biết trước liệu có sự thay đổi nào liên quan đến địa điểm bạn định thuê hay không? 

-Các điều khoản thuê. Tìm hiểu kỹ hợp đồng thuê để có những thoả thuận hợp lý nhất. 

3. Bố trí, sắp đặt 

Sắp đặt và thiết kế là những yếu tố quan trọng góp phần vào sự thành công của nhà hàng. Bạn cần thiết kế hợp lý cho khu chế biến, khu bếp, khu trữ hàng, khu văn phòng và khu dành cho khách. Thông thường, khu dành cho khách ăn chiếm từ 40-60% diện tích nhà hàng, 30% dành cho khu chế biến và nấu nướng, phần còn lại là khu trữ hàng và khu văn phòng. 

-Khu dành cho khách: đây là khu giúp bạn kiếm tiền, chính vì thế đừng cắt xén nó khi thiết kế. Hãy dành thời gian thăm càng nhiều nhà hàng càng tốt để phân tích cách bài trí của những nhà hàng đó. Hãy quan sát thái độ của những khách hàng tới ăn, họ phản ứng ra sao với những cách bài trí đó? Chúng tiện lợi hay không? Phân tích những cái hay và dở để rút kinh nghiệm

Cách thiết kế khu dành cho khách phụ thuộc vào quan niệm của bạn. Thống kê cho thấy 40 đến 50% khách hàng tới theo đôi, 30% đi một mình hoặc nhóm 3 người, 20% đi theo nhóm từ 4 người trở lên. Để đáp ứng từng nhóm khách khác nhau, hãy dùng bàn cho 2 người và dùng loại có thể di chuyển để lắp ghép thành bàn rộng hơn. Cách này giúp bạn linh hoạt hơn trong việc phục vụ từng nhóm khách hàng khác nhau.

-Khu chế biến. Các khu chế biến trong nhà hàng thường rơi vào tình trạng thiết kế không hiệu quả. Hãy nắm rõ thực đơn trong đầu để xác định từng yếu tố trong khu vực chế biến. Bạn cũng cần khu vực dành cho việc nhận, cất giữ nguyên liệu, sơ chế, nấu, rửa chén bát, khu đựng rác, thuận lợi cho nhân viên và khu dành cho văn phòng. 

Hãy sắp xếp khu chế biến thức ăn sao cho chỉ cách khu nấu nướng vài bước chân. Cách thiết kế của bạn cũng nên cho phép hai đầu bếp hoặc nhiều hơn cùng làm khi có nhiều khách. 

4. Lên thực đơn 

Thực đơn là danh sách các món ăn hay đồ uống mà nhà hàng của bạn hiện có, được đưa ra để khách hàng lựa chọn. Khi lên thực đơn, bạn cần lưu ý đến trẻ em nếu khách hàng mục tiêu của bạn bao gồm cả đối tượng này, ví dụ như thiết kế một số món với khẩu phần nhỏ hơn để hấp dẫn các em nhỏ. 

Thực đơn có xu hướng ngày càng dài và điều này chỉ khiến cho khách hàng thêm rối trí. Hãy sắp xếp các món theo mục, cố gắng cung cấp cho khách hàng nhiều sự lựa chọn nhất nhưng với thực đơn ngắn gọn nhất. 

5. Những quy định về an toàn thực phẩm 

An toàn thực phẩm cần được đặt lên hàng đầu khi bạn dấn thân vào việc kinh doanh nhà hàng. Bạn cần tìm hiểu về những quy định an toàn thực phẩm mà các nhà chức trách đã đưa ra để thực hiện cho đúng. Uy tín của nhà hàng sẽ rất khó lấy lại nếu bạn để khách hàng của mình bị ngộ độc, ngoài ra bạn còn phải trả chi phí điều trị không nhỏ cho khách hàng. 

6. Tuyển nhân viên 

Bước đầu tiên trong chương trình tuyển dụng nhân viên là quyết định chính xác bạn muốn nhân viên làm gì. Bảng mô tả công việc không nhất thiết phải quy mô như của các công ty lớn, điều quan trọng là nó phải liệt kê được trách nhiệm và phận sự của từng công việc. 

Tiếp theo bạn cần lập bảng quy định mức lương. Để đạt hiệu quả tối ưu, bạn nên nghiên cứu mức lương chung trong ngành, sau đó đặt ra mức lương tối đa và tối thiểu đối với từng vị trí để việc trả lương dựa vào năng lực được linh hoạt hơn. 

Có một số vị trí đặc biệt bạn cần lưu tâm:

– Người quản lý: Vị trí quan trọng nhất trong hầu hết các nhà hàng là người quản lý. Tốt nhất là người đó phải đã từng quản lý một hay nhiều nhà hàng và có mối quan hệ với các nhà cung cấp thực phẩm. Chắc chắn bạn cũng muốn có được một người quản lý có kỹ năng và khả năng giám sát nhân viên đồng thời vẫn làm toát lên phong cách và cá tính của nhà hàng. Để có được người quản lý như thế bạn cần phải trả mức lương tương xứng và nên tuyển trước khi mở cửa hàng ít nhất 1 tháng để họ có thể tư vấn cho bạn. 

-Bếp trưởng và đầu bếp: khi mới bắt đầu bạn có thể cần 3 đầu bếp, 2 người làm toàn thời gian và 1-bán thời gian, giờ làm việc từ 10h sáng đến 4h chiều hoặc từ 4h chiều tới lúc đóng cửa. Người làm bán thời gian được bố trí vào những giờ cao điểm, cuối tuần hoặc ngày lễ 

-Người phục vụ: Họ là những người trực tiếp tiếp xúc với khách hàng của bạn, vì thế họ cần phải tạo ra ấn tượng dễ chịu và có thể làm việc tốt dưới áp lực lớn, cùng lúc phục vụ nhiều  bàn mà vẫn giữ được vẻ tươi tỉnh. 

Đối với bất kì nhân viên nào bạn cũng nên cho họ biết triết lý của nhà hàng cũng như hình ảnh mà bạn muốn xây dựng để cùng nhau phấn đấu. 

7. Chiến lược marketing và quảng bá 

Bất cứ công ty nào cũng cần có một kế hoạch marketing và loại hình kinh doanh nhà hàng không phải là ngoại lệ. Tuy nhiên dù áp dụng chiến lược marketing nào đi chăng nữa bạn cũng không nên bỏ qua phương pháp marketing truyền miệng bởi theo nghiên cứu, đây là phương pháp quảng cáo tốt nhất đối với ngành kinh doanh thực phẩm. 

Khi khai trương nhà hàng bạn có thể gửi giấy mời dùng bữa miễn phí tới những nhân vật tiêu biểu trong tập khách hàng mà bạn nhắm tới. Đăng kí tên trên danh sách các địa chỉ ẩm thực, sách hướng dẫn du lịch, quảng cáo trên các phương tiện thông tin hoặc giới thiệu cách chế biến một vài món ăn đặc trưng của nhà hàng trên tạp chí.

Mẫu đề cương cơ sở lý thuyết luận văn kế toán quản trị chi phí

Bạn đang ngán ngẩm với bài luận văn kế toán quản trị chi phí? Trong bài viết này, Luận Văn Việt  chuyên viết luận văn tốt nghiệp sẽ chia sẻ đến bạn mẫu đề cương phần cơ sở lý thuyết. Hi vọng, bạn sẽ có thể tự làm bài luận văn của mình một cách dễ dàng.

Mẫu đề cương cơ sở lý thuyết luận văn kế toán quản trị chi phí
Mẫu đề cương cơ sở lý thuyết luận văn kế toán quản trị chi phí

1. TỔNG QUAN VỀ QUẢN TRỊ CHI PHÍ TRONG CÁC DOANH NGHIỆP

1.1. Khái niệm quản trị chi phí kinh doanh 

Quản trị chi phí kinh doanh là quá trình phân tích, tập hợp, tính toán và quản trị các chi phí kinh doanh phát sinh trong quá trình sản xuất và tiêu thụ sản phẩm (dịch vụ) nhằm cung cấp thường xuyên các thông tin về chi phí kinh doanh đảm bảo độ chính xác cần thiết làm cơ sở cho các quyết định quản trị doanh nghiệp. 

Quản trị chi phí kinh doanh nhằm cung cấp thông tin về chi phí kinh doanh để mỗi tổ chức thực hiện chức năng quản trị yếu tố nguồn lực tiêu dùng cho các hoạt động, nhằm xây dựng kế hoạch, kiểm soát, đánh giá hoạt động và ra các quyết định hợp lý. 

1.2.  Vai trò của quản trị chi phí trong doanh nghiệp 

Quản trị chi phí giúp doanh nghiệp có thể cải thiện chất lượng sản phẩm hay dịch vụ của mình mà không làm thay đổi chi phí, giúp doanh nghiệp tập trung năng lực của mình vào các điểm mạnh. 

Quản trị chi phí giúp người ra quyết định nhận diện được các nguồn lực có chi phí thấp trong việc sản xuất và cung ứng hàng hóa, dịch vụ. 

Mẫu đề cương cơ sở lý thuyết luận văn kế toán quản trị chi phí
Mẫu đề cương cơ sở lý thuyết luận văn kế toán quản trị chi phí

2. PHÂN LOẠI CHI PHÍ TRONG CÁC DOANH NGHIỆP 

2.1. Phân loại chi phí theo chức năng hoạt động

  • Chi phí sản xuất 
  • Chi phí ngoài sản xuất

2.2. Phân loại chi phí theo cách ứng xử của chi phí

– Biến phí 

Biến phí tỷ lệ 

Biến phí cấp bậc 

– Định phí 

Định phí bắt buộc 

Định phí tuỳ ý 

– Chi phí hỗn hợp 

2.3. Phân loại chi phí phục vụ cho việc ra quyết định

  • Chi phí trực tiếp và chi phí gián tiếp 
  • Chi phí kiểm soát được và chi phí không kiểm soát được 
  • Chi phí tránh được và chi phí không tránh được 
  • Chi phí chênh lệch 
  • Chi phí cơ hội 
  • Chi phí chìm 

3. NỘI DUNG QUẢN TRỊ CHI PHÍ TRONG CÁC DOANH NGHIỆP

3.1. Hoạch định chi phí trong doanh nghiệp 

Hoạch định là xây dựng các mục tiêu phải đạt được cho từng giai đoạn công việc cụ thể, vạch ra các bước, phương pháp thực hiện để đạt được các mục tiêu đó. 

– Lập phương án tổ chức sản xuất 

Công tác tổ chức sản xuất là việc làm đầu tiên của quá trình tổ chức sản xuất, nó chính là việc hoạch định những giải pháp trên những điều kiện cho phép về kết cấu kỹ thuật, điều kiện thời tiết khí hậu, thời gian, về phương pháp kỹ thuật, khả năng cung cấp vật tư, về lao động, tài chính,… nhằm mục tiêu tổ chức quá trình sản xuất hiệu quả nhất. 

– Lập dự toán chi phí 

Dự toán là quá trình tính toán chi tiết cho kỳ tới, nhằm huy động và sử dụng các nguồn lực theo các mục tiêu kế hoạch đề ra trong từng thời kỳ cụ thể. Lập dự toán chi phí SXKD là việc lập dự kiến chi tiết những chỉ tiêu trong hệ thống quá trình SXKD của doanh nghiệp trong từng kỳ. 

Dự toán chi phí NVL trực tiếp được tính căn cứ vào định mức tiêu hao NVL và đơn giá dự toán của NVL. 

Dự toán chi phí NCTT được tính trên căn cứ đơn giá tiền lương được xây dựng cho từng sản phẩm và sản lượng sản phẩm dự kiến sản xuất trong kỳ. 

Dự toán chi phí SXC bao gồm dự toán biến phí SXC và dự toán định phí SXC. 

Dự toán chi phí bán hàng và chi phí quản lý DN 

Tương tự như chi phí SXC, chi phí bán hàng và chi phí quản lý DN có thể chia thành biến phí và định phí. 

Dự toán chi phí tài chính 

3.2. Tổ chức thực hiện chi phí 

Tập hợp và tính chi phí sản phẩm theo theo phương pháp truyền thống 

Tính chi phí sản phẩm theo quá trình hoạt động (ABC –Activity Based Costing) 

3.3. Lãnh đạo chi phí 

Khi chúng ta so sánh giữa kết quả đạt được với chi phí thực hiện sẽ có khái niệm hiệu quả hoạt động.

Hiệu quả = Kết quả – chi phí 

Hiệu quả sẽ tăng khi tăng kết quả với chi phí không đổi hoặc giảm chi phí mà vẫn giữ nguyên kết quả. Muốn đạt được cả hai điều đó đòi hỏi phải biết cách quản lý chi phí. 

Để đánh giá hiệu quả hoạt động, các nhà quản trị chi phí có thể lập các báo cáo kết quả kinh doanh. 

3.4. Kiểm soát chi phí 

Kiểm soát chi phí NVL trực tiếp 

Kiểm soát chi phí NCTT 

Kiểm soát chi phí SXC 

Kiểm soát CPBH và chi phí QLDN 

3.5.  Ra quyết định quản trị 

Phân tích thông tin chi phí 

Thông tin chi phí thích hợp hỗ trợ cho các nhà quản trị trong việc đưa ra các quyết định kinh doanh. Quá trình ra quyết định là việc lựa chọn từ nhiều phương án khác nhau với rất nhiều thông tin của kế toán, trong đó thông tin về chi phí luôn rất quan trọng trong các quyết định ngắn hạn. 

Phân tích chi phí theo các trung tâm chi phí 

– Đối với trung tâm cung ứng

– Đối với trung tâm sản xuất 

– Đối với trung tâm tiêu thụ 

– Đối với trung tâm quản lý 

– Đối với trung tâm đầu tư  

Phân tích mối quan hệ giữa chi phí – sản lượng – lợi nhuận 

Các quyết định về giá bán dựa trên chi phí  

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 

Trong chương 1, luận văn đã tập trung nghiên cứu, làm sáng tỏ những vấn đề lý luận cơ bản về quản trị chi phí trong các DN sản xuất kinh doanh. Để đảm bảo tính hệ thống, luận văn đã phân tích vai trò của quản trị chi phí, KTQT và kế toán chi phí, cách phân loại chi phí trong SXKD. Trên cơ sở đó luận văn đã xác định nội dung của quản trị chi phí bao gồm hoạch định chi phí, tổ chức thực hiện chi phí, lãnh đạo chi phí, kiểm soát chi phí, ra quyết định quản trị. Những vấn đề đã nghiên cứu trong chương 1 của luận văn sẽ là cơ sở để xem xét, đánh giá thực trạng về quản trị chi phí tại công ty cổ phần đường Kon Tum. Từ đó tìm ra những giải pháp hoàn thiện công tác quản trị chi phí cho công ty cổ phần đường Kon Tum.
Từ khóa liên quan: luận văn thạc sĩ kế toán quản trị, luận văn thạc sĩ kế toán quản trị chi phí, ngành quản trị tài chính kế toán

Quản trị truyền thông

Ngành quản trị truyền thông là ngành được coi là “hot” năm 2019 vì mang tới cơ hội việc làm rộng mở và đầy hứa hẹn cho những cử nhân tương lai. Trong bài viết này, Luận Văn Việt chuyên viết luận văn tốt nghiệp xin chia sẻ đến bạn đọc  “Những điều cần biết về ngành quản trị truyền thông”.

Quản trị truyền thông nghe có vẻ xa lạ và to lớn với nhiều người nhưng về thực chất, đây là chương trình đại học quản trị kinh doanh áp dụng trong các ngành kinh tế truyền thông, một lĩnh vực vẫn chưa phát triển chuyên nghiệp ở Việt Nam.

Những điều cần biết về ngành quản trị truyền thông
Những điều cần biết về ngành quản trị truyền thông

Ảnh – Những điều cần biết về ngành quản trị truyền thông

1. Ngành quản trị truyền thông là gì?

Quản trị truyền thông thực chất chính là quản trị kinh doanh nhưng được đào tạo chuyên sâu vào quản trị lĩnh vực truyền thông. Quản trị truyền thông có một sự liên kết rõ ràng từ quản trị tới công nghệ thông tin và truyền thông. Theo đó nó thích hợp không chỉ cho những người đang làm việc trong các cơ quan thông tin-truyền thông mà còn cho tất cả các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ quảng bá trên các phương tiện truyền thông, cũng như các nhân viên chuyên trách tiếp thị, quảng cáo, giao tế cộng đồng, tổ chức sự kiện, xây dựng nhãn hiệu… tại các doanh nghiệp và tổ chức bên ngoài khu vực truyền thông.

Đây chính là chuyên ngành mới của Đại học Văn Hiến bắt đầu mở từ năm nay sau khi VTC trở thành nhà đầu tư chiến lược. Ngoài những bộ môn quản trị tài chính, quản trị nhân lực, quản trị hoạt động… sinh viên sẽ được bổ sung thêm các kiến thức về truyền thông, đặc biệt là truyền thông hiện đại, gắn với công nghệ thông tin và các phương tiện truyền thông số. Việc đào tạo sâu vào lĩnh vực chuyên ngành nhằm đáp ứng nhu cầu nhân lực của chính doanh nghiệp chủ quản là hướng đi của các trường Đại học tư thục, có gắn với doanh nghiệp.

Quản trị truyền thông
Quản trị truyền thông

2. “Quản trị truyền thông” khác gì so với đào tạo “Quan hệ công chúng” hoặc “Quảng cáo truyền thông” truyền thống

Theo ông Raj Dass – Trưởng Ban hợp tác quốc tế Khu vực Châu Á, Thái Bình Dương, Đại học Greenwich (Vương quốc Anh): “Quản trị truyền thông không chỉ dạy cho sinh viên những kỹ năng làm việc với báo chí hay những phương thức quảng cáo tiếp thị truyền thống. Ngày nay với sự phát triển chóng mặt của Internet và mạng xã hội, bất kể ai trong chúng ta cần có lượng kiến thức nhất định để có thể phân loại và đánh giá thông tin, điều này càng quan trọng đối với những người làm trong lĩnh vực truyền thông.

Giáo trình “Quản trị truyền thông” của chúng tôi sẽ giúp sinh viên nắm được những phương thức mới như quảng cáo, truyền thông tích hợp trên nhiều nền tảng cũng như những kênh giao tiếp nhanh và hiệu quả nhất. Có khả năng lên kế hoạch quản trị bất cứ thương hiệu nào ở tầm chiến lược vĩ mô và lâu dài”.

Bên cạnh đó sinh viên cũng sẽ nắm được mô hình hoạt động của các tổ chức doanh nghiệp, nền tảng pháp lý và các kỹ năng quản trị trong một tổ chức, doanh nghiệp. Ngoài ra, những môn học như “Đánh giá truyền thông”, “Đạo đức & lý thuyết xã hội trong truyền thông” là những kiến thức mà tôi chưa thấy xuất hiện nhiều trong các giáo trình truyền thống thuần về quan hệ công chúng, quan hệ báo chí hay quảng cáo, tiếp thị tại Việt Nam.

3. Cơ hội nghề nghiệp ngành quản trị truyền thông

Ông Raj Dass cho biết thêm: “Với những kiến thức bao quát trong giáo trình “Quản trị truyền thông” và kỹ năng tiếng anh được phát triển trong môi trường quốc tế, các sinh viên Đại học Greenwich (Việt Nam) hoàn toàn đủ năng lực cho những vị trí từ sơ cấp tới cao cấp cho các thương hiệu lớn trong và ngoài nước và cả các tổ chức phi chính phủ tại Việt Nam.

Nhiều sinh viên đã tốt nghiệp chuyên ngành này tại Vương quốc Anh đã ngay lập tức được nhận vào làm việc tại Apple, Ford, Disney và cả những tập đoàn nổi tiếng lĩnh vực truyền thông báo chí như BBC, Twitter, Weber Shandwick…”

Quản trị truyền thông hứa hẹn trở thành ngành học hot không chỉ tại Việt Nam mà cả các nước trên thế giới. Tại Việt Nam, các trường đại học quốc tế được xem là có ưu thế nhiều hơn so với các giáo trình truyền thống. Trường thường xuyên cập nhật thị trường thực tế và trang bị vốn ngoại ngữ cho sinh viên.

Phụ huynh và học sinh nên tìm hiểu cặn kẽ và hiểu rõ cấu trúc chương trình cũng như bản chất các môn học, để lựa chọn chương trình học phù hợp, là nền tảng vững chắc cho sự nghiệp sau này.